Nhật ký chiến tranh

Ôn lại đôi nét về trận pháo kích buộc căn cứ hỏa lực 241 ở Quảng Trị

4f104f5cff31658081bfb924a70ee11c A2 ghep 60x90đầu hàng

Trong những ngày đáng ghi nhớ này, xin mời các cựu chiến binh từng tậnham gia tại mặt trận Quảng Trị ôn lại vài nét qua phóng sự Phút cuối Tân Lâm của Lê Văn Trạch SĐ3 BB quân lực VNCH viết về thiếu tá Tôn Thất Mãn và trung tá Phạm Văn Đính
… “Có những thời khắc, mạng sống như nghìn cân treo sợi tóc, phải chiến đấu để chiếm từng thước đất, ngọn đồi, từng bờ tường, con phố, nhưng bằng mưu trí và sự can trường, anh đã dẫn đơn vị đi qua và chiến thắng, đôi khi có những tình huống hết sức nghiệt ngã! Thế mà đến đầu tháng 4/1972, đó chưa phải là giờ thứ 25 của cuộc chiến, tại một căn cứ hỏa lực hùng hậu, có ưu thế phòng thủ với trên 1000 tay súng và một Ban Chỉ huy dày dạn chiến trường …. và anh, một người chỉ huy tác chiến … Tất cả chưa bắn một phát súng nào, chưa có đơn vị bộ binh nào của địch xuất hiện, cũng không có lời kêu gọi áp đảo tinh thần, mà chỉ mới là những quả đạn pháo binh được bắn vào căn cứ liên tục, đồng ý là địch có ưu thế hỏa lực, áp dụng chiến thuật phong lôi, cả một Trung đoàn Pháo cùng lúc bắn vào mục tiêu, nhưng như thế chưa phải là hoàn toàn bế tắc, để không thể tổ chức chiến đấu, thế mà chúng tôi đã phải buộc lòng quy giáp đầu hàng.
Đầu hàng! Tại sao lại như thế. Động cơ nào? Đó là câu hỏi nhức nhối dày xéo tâm can anh! Anh cũng đã thẳng thắn nói ra những ý nghĩ ấy cho đối phương là Nguyễn Quý Hải, tác giả của hồi ký Mùa Hè Cháy, nguyên Tiểu đoàn trưởng Pháo Binh thuộc Trung đoàn Bông Lau, đơn vị trực tiếp gây áp lực buộc Trung đoàn 56 đầu hàng. Trong quyển sách này, tác giả kể lại cảm nghĩ của Thiếu tá Mãn về sự thất bại của Trung đoàn 56 trước sức tấn công như vũ bão của Trung đoàn 38 Pháo Bông Lau, Thiếu tá Mãn đã trả lời: “ Tôi hết sức ngạc nhiên, không thể tin nổi là số phận của một căn cứ hỏa lực mạnh nhất Quân Đoàn đã được quyết định chỉ trong vòng năm phút !” Hôm nay anh vẫn xác nhận như thế và trình bày thêm: “Sau khi tuyên bố 3 hướng giải quyết, ông Đính đã không có sự thảo luận với tất cả sĩ quan có mặt và sau lời phản đối của anh Mãn, ông Đính liền ra lệnh Đại úy Nhơn cởi áo lót làm tín hiệu …”.
Quả thật lúc này chúng ta mới biết 3 cách giải quyết được đưa ra như là một thông báo, chứ không phải để bàn bạc, bởi vì mọi chuyện đã được quyết định “Đọc đoạn phóng sự đối phương viết về đoàn pháo binh 38 Bông lau của chúng tôi, Tôi rất đỗi tự hào. Cuốn Mùa hè cháy, đến nay đã chuẩn bị tái bản lần thứ năm. Cuốn nhật ký mà người đọc dẫu ở mặt trận nào, dẫu ở quân chủng nào cũng có thể thấy bóng dáng của mình ở trong đó, cũng có thể nhận ra hàng ngàn bạn chiến đấu của mình đã hy sinh trong trận chiến như thế nào. Có thể vì vậy mà rất nhiêu cựu chiến binh và khách tham quan Thành Cổ không quên mua cuốn Mùa hè cháy.
Hôm nay 150 cuốn Mùa hè cháy bìa mỏng và 80 cuốn bìa dày cuối cùng của lần tái bản thứ tư đã đến Thành Cổ.

Nhật ký chiến tranh Mùa hè cháy NXB Hội nhà văn tái bản lần thứ tư (có bổ sung tư liệu tham khảo của phía đối phương) đã có bán tại Nhà sách Nguyễn Văn Cừ và quầy sách Thành Cổ Quảng Trị.

Gặp gỡ giao lưu các chiến sỹ bảo vệ Thành Cổ nhân kỷ niệm 40 năm giải phóng Quảng Trị

Kênh Hanoi TV giới thiệu cuốn Mùa hè cháy

Công ty truyền thông do Thu Hiền biên tập đang ghi hình tác giả Mùa hè cháy, đại tá nhà văn Quí Hải, nhân kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng Quảng Trị. Chương trình giới thiệu cuốn sách Mùa hè cháy sẽ phát vào dịp 30 tháng 4 năm nay trên kênh hanoi 2

Vua chiến trường đã bị bắt sống

Họp mặt bạn chiến đấu trung đoàn 38 Pháo binh Bông Lau 1

Ngày 20 tháng 11 năm 2011 anh em cựu chiến binh đoàn 38 pháo binh Bông Lau 1 đã họp mặt lần đầu tại quận Hà Đông thành phố Hà Nội. Sau khi làm lễ trao kỷ niệm chương của mặt trận B5 và chiến trường Trị Thiên, anh em đã tới thăm và chụp ảnh tại khẩu pháo vua chiến trường 175mm, dấu ấn của thắng lợi lịch sử, hy hữu, lần đầu trong lịch sử chiến tranh tại Việt Nam, một trung đoàn thuộc quân lực Sài Gòn phải gọi điện tới pháo binh bông Lau 1 xin  ngừng bắn để đầu hàng tập thể.

Tham dự cuộc gặp mặt có một khách người Mỹ, ký giả Lady Borton, chị rất quan tâm tới cuốn nhật ký chiến tranh Mùa hè cháy của đại tá nhà văn Quí Hải. Chị mong cuốn nhật ký này sớm được xuất bản bằng tiếng Anh, với nhiều ảnh tư liệu ảnh được kèm theo.

haiduongblog

Cựu chiến binh đoàn 38 pháo binh Bông Lau 1 chụp ảnh kỷ niệm bên khẩu phảo vua chiến trường đơn vị đã thu được tại căn cứ Tân Lâm (Caroll)

Ngồi bên trái ký giả Lady Borton là nhà văn đại tá Quí Hải

Lady Borton mong cuốn Nhật ký chiến tranh Mùa hè cháy sớm được xuất bản bằng tiếng Anh.

Mùa hè cháy

giới thiệu sách về ngày 22/12

Trường THCS Gio Quang              Thư viện  GIỚI THIỆU SÁCH 22/12             Kính thưa quý thầy, cô giáo! Cùng các bạn học sinh thân mến.           Trong bất cứ hoàn cảnh nào, chiến tranh hay hoà bình – Người chiến sĩ luôn được nhân dân tin yêu, đùm bọc. Với họ – những người lính, lẽ sống là sự toàn vẹn lãnh thổ, là độc lập dân tộc và bình yên cho nhân dân.             Nhân nhịp kỷ niệm 66 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12/1944 – 22/12/2010 thay mặt tổ công tác thư viện em xin giới thiệu với thầy, cô cùng các bạn quyển Nhật ký chiến tranhMùa hè cháy” của Quý Hải.          Cuốn Nhật ký “Mùa hè cháy” của tác giả Quý Hải mô tá khá sinh động, chân thực tinh thần chiến đấu ngoan cường của biết bao cán bộ, chiến sĩ Pháo binh, Công binh, Bộ binh và nhân dân đã dũng cảm vượt qua bom đạn khốc liệt giành chiến thắng tại mặt trận Quảng Trị, mùa hè 1972.          Như chúng ta đã biết, trong những năm tháng chiến tranh, khi đất nước còn bị chia cắt thì Quảng Trị là vùng đất chiến lược của cả ta và địch, là cửa ngõ giữa hai miền Nam Bắc. Đối với kẻ thù, Quảng Trị là tấm lá chắn để ngăn chặn ta đưa lực lượng phương tiẹn và vũ khí chi viện cho miền Nam. Vì vậy Quảng Trị luôn luôn là vùng đất đối đầu giữa ta và địch, mà đỉnh điểm là mùa hè 1972… Và chiến công Quảng Trị là bản anh hùng ca sống mãi với mọi thời đại.          “Mùa Hè cháy” là những tranh nhật ký của đại tá Quý Hải nguyên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2, trung đoàn Pháo binh 38 (Đoàn Pháo binh Bông Lau), viết về anh và đồng đội của anh trên chiến trường Quảng Trị những năm tháng đó. Đây không chỉ là những dòng nhật ký cá nhân, mà ở đó Quý Hải đã viết về tinh thần chiến đấu ngoan cường của biết bao nhiêu chiến sĩ Pháo binh đã dũng cảm vượt qua bom đạn khốc liệt để giành chiến thắng, ở đó còn có cả những ước mơ hoài bão của tuổi trẻ cùng ký tưởng cách mạng, niềm tin về chiến thắng của dân tộc. Có thể nói đây là tác phẩm có giá trị, phản ánh trung thực những sự kiện, những nhân chứng của một thời lữa và hoa.          Kỷ nguyên hoà bình thống nhất đã mở ra trên đất nước Việt Nam. Hơn ba mươi năm chiến tranh đẫm máu đã lùi vào dĩ vãng. Lùi mãi, lùi nữa và đùng bao giờ trở lại. Người Việt Nam muốn khép lại quá khứ, muốn quên đi những năm tháng chiến tranh, muốn quên đi thù hận. Sẽ đến một ngày chiến tranh chỉ còn là một tự kép trong từ điển, chỉ động lại trên vài trang viết trong pho sử Việt Nam, chỉ còn ghi lại dấu ấn trong lời hát ru, trong giai điệu một vài bài ca bất tử.          Cuốn sách này bằng những dòng nhật ký viết về những ngày tháng tác giả làm tiểu đoàn trưởng, viết về tiểu đoàn 2, viết về trung đoàn 38 và những bài ghi chép, phóng sự kể lại những gì đã diễn ra cả về phía ta và phía địch trong cuộc chiến Quảng Trị mùa hè năm 1972 sẽ giúp bạn đọc có cơ hội để thấu hiểu một góc nhỏ những gì thế hệ cựu chiến binh đã phải trải qua, để nhận rõ bộ mặt chiến tranh.          Cùng như bao đọc giả khác em rất xúc động khi đọc cuốn nhật ký “Mùa hè cháy” và tin tưởng rằng tác phẩm sẽ góp phần truyền lại cho thế hệ hôm nay và mai sau tình cảm, lý tưởng cách mạng và kinh nghiệm chiến đấu đã được đúc kết bằng xương máu của các thế hệ đi trước. Hy vọng tác phẩm sẽ được đông đảo bạn đọc, nhất là thế hệ trẻ quan tâm để noi gương cha anh, nuôi dưỡng tình yêu đất nước và bản chất anh hùng cách mạng, học tập, lao động và sẳn sàng chiến đấu, hy sinh để xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.                     Kính thưa quý thầy cô cùng các bạn thân mến! Trong thời gian có hạn Thư viện xin chân thành cám ơn sự theo dõi của quý thầy, cô và các bạn về việc giới thiệu sách.Rất mong thầy cô và các bạn nhiệt tình tìm đọc, hy vọng cuốn sách này giúp các bạn, quý thầy cô tìm thấy những điều bổ ích cần thiết cho mình.                                                      Gio Quang, ngày 13 tháng 12 năm 2010                                                                             Cán bộ thư viện                                                                                Nguyễn Thị Liễu


Nguyễn Thị Liễu @ 08:25 21/12/2010

Mùa hè cháy (tái bản)

Nhật ký chiến tranh, những trang viết sống động chân thực về cuộc chiến đấu vô cùng gian khổ hy sinh và anh hùng của quân dân ta trong chiến dịch lịch sử năm 1972 tại mặt trận Quảng Trị đang có bán tại Nhà sách Minh Khai 249 đường Nguyễn Thị Minh Khai, thành phố Hồ Chí Minh, Nhà sách Nguyễn Văn Cừ đường Cầu giấy Hà Nội, Quầy sách tâm linh tại thành Cổ Quảng Trị và nhiều nhà sách khác. Mùa hè cháy tái bản lần này giá bìa 68.000 đ cũng có bán tại nhà tác giả tại phố Mai Dịch Điện thoại 0975656290. và 38370007.

Các chiến sỹ lão thành đã trải qua chiến đấu  những năm tháng chống Mỹ cứu nước háy sở hữu cuốn Mùa hè cháy, các cụ sẽ thấy hình ảnh của chính các cụ và đồng đội trong đó. Hãy mua tặng cho con cháu Mùa hè cháy để thế hệ con cháu biết được ông cha đã chiến đấu gian khổ hy sinh và anh hùng như thế nào để giành độc lập thống nhất cho dân tộc.

Các cháu… Nếu ông các cháu đã từng trải qua chiến đấu trong cuộc chiến chống Mỹ cứu nước. món quà đầy ý nghĩa tặng ông trong ngày thượng thọ là  cuốn nhật ký chiến tranh Mùa hè cháy. Mùa hè cháy được hai nhà xuất bản danh tiếng cùng xuất bản: NXB Quân đội Nhân dân và NXB Hội Nhà Văn đã trải qua bốn lần tái bản.  Mùa hè cháy có nhiều tư liệu quí trích từ phía đối phương. Mùa hè cháy mua tại nhà tác giả sẽ được khuyến mại và có chữ ký lưu niệm.

    Thiếu tướng chính ủy Binh chủng Pháo binh

                        Trần Hữu Định

                             

MÙA HÈ CHÁY

“… sẽ góp phần trau dồi tình cảm lý tưởng cách mạng cho thế hệ hôm nay và mai sau…

Tượng đài trong lòng Tổ quốc

Cập nhật lúc 02:10, Thứ bảy, 23/07/2011 (GMT+7)

Các cựu chiến binh trong ngày gặp mặt tại Quảng Trị.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kết thúc cách đây 36 năm và hôm nay, đất nước đang trong thời kỳ đổi mới. Dù thời gian có trôi qua nhưng những năm tháng hào hùng của cuộc kháng chiến vĩ đại và sự hy sinh anh dũng của những người con ưu tú của dân tộc vẫn vẹn nguyên, in đậm dấu ấn trong tâm trí của mỗi người Việt Nam…

Bao nhiêu năm rồi, Quảng Trị của những ngày máu lửa năm 1972 vẫn còn nguyên vẹn trong ký ức chúng tôi, không lúc nào nguôi ngoai. Ngày ấy, cùng những bạn bè đồng trang lứa, chúng tôi ra chiến trường, lòng phơi phới niềm tin vào ngày đất nước thống nhất. Khó có thể nói hết về những hiểm nguy rình rập từng phút, từng giây trên mảnh đất này. Từ bom, đạn, chất độc da cam, đến pháo bầy, biệt kích, sốt rét rừng… Nhưng không nguy hiểm nào có thể ngăn nổi bước chân của đoàn quân ra trận. Ðể rồi, bao nhiêu đồng đội của chúng tôi đã vĩnh viễn ở lại mảnh đất này cho Tổ quốc mãi xanh. Mỗi tấc đất thân yêu nơi đây lưu giữ bao kỷ niệm  của một thời trai trẻ. Ngày ấy, chúng tôi tình nguyện nhập ngũ theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc. Có người vừa học xong cấp 3, có người đang học trong trường chuyên nghiệp, có người đang công tác tại các cơ quan, công trường, xí nghiệp. Tất cả hừng hực chí trai hòa vào đoàn quân đầy khí thế. Mỗi chúng tôi, bằng khả năng của mình, đã không quản mọi hiểm nguy, đóng góp sức mình vào thắng lợi chung của đất nước. Ðể hôm nay nhớ lại đã không phải hổ thẹn với bao anh linh liệt sĩ từng chung một chiến hào.

Những ngày hè năm 1972, chúng tôi ở Trung đoàn 38 pháo binh mang tên Bông Lau. Ðó là đơn vị đã trở thành nỗi khiếp sợ cho kẻ địch ở miền tây Quảng Trị, đã góp phần quyết định bức hàng Trung đoàn 56 bộ binh đóng tại căn cứ Tân Lâm ngay từ trận đầu mở màn cho chiến dịch “Nguyễn Huệ”. Trung đoàn 56 của địch là đơn vị pháo hiện đại, trong đó có cả pháo tự hành 175 mm được mệnh danh là “vua chiến trường” đã phải đầu hàng. Sự kiện quan trọng này góp phần làm tan rã tinh thần quân lính đối phương, tạo đà cho quân và dân ta giải phóng hoàn toàn Quảng Trị. Chúng tôi không bao giờ quên những ngày hè 1972, khi kẻ thù củng cố lực lượng và tổ chức những đợt phản kích dữ dội. Mỗi ngày, chúng tôi phải chịu bao trận bom B52, pháo bầy… Và mỗi khi nhìn xuống khu Thành cổ, lại vô cùng xót xa cho những đồng đội không quản hy sinh, giành giật từng tấc đất với kẻ thù. Bầu trời Thành cổ nhỏ bé lúc nào cũng mù mịt khói bụi như một cột nấm khổng lồ. Về sau mới được biết, trong những ngày đó, địch đã tập trung vào đây mỗi ngày 150 – 170 lần máy bay phản lực, 70 – 90 lần máy bay B52, 12 – 16 tàu khu trục, tuần dương hạm, hai sư đoàn dù và thủy quân lục chiến, một liên đoàn biệt động, bốn trung đoàn thiết giáp (với 320 xe tăng, xe bọc thép) và hàng chục tiểu đoàn pháo cỡ lớn… Chỉ trong vòng 81 ngày, Mỹ – Ngụy đã ném xuống đây gần 330 nghìn tấn bom đạn. Riêng ngày 25-7, chúng bắn vào Thành cổ hơn 5.000 quả đại bác. Thành cổ không còn một viên gạch lành lặn và mỗi tấc đất đều thấm máu đồng đội của chúng tôi.

Hôm nay, chúng tôi trở lại chiến trường xưa. Ðây Vĩnh Linh, Cồn Tiên, Dốc Miếu, Cam Lộ; phía xa kia nữa là La Vang, Tích Tường, Triệu Phong, Hải Lăng,… Chúng tôi không sao kìm được nỗi xúc động, từng đợt dâng nghẹn trong lòng. Ðây Cam Lộ, là nơi Nguyễn Xuân Quang người bạn cùng nhập ngũ với chúng tôi, người lính đầu tiên đợt ấy nằm lại bên sông khi vừa tròn 20 tuổi, máu thấm đỏ lá thư của người yêu luôn để trong túi ngực. Ðây là nơi anh Vải, anh Sình, lái xe xích kéo pháo đã bị trúng bom. Rồi bao cán bộ, chiến sĩ chúng tôi chưa kịp biết tên, đã không bao giờ trở về quê hương yêu dấu.

Bên đầu cầu sông Thạch Hãn, vươn cao lồng lộng tượng đài 20 trái tim của Trung đội Mai Quốc Ca Anh hùng. Bao tháng năm, những trái tim vẫn đỏ tươi nhiệt huyết. Những trái tim như những nốt nhạc ngân vang giữa đất trời tự do. Những trái tim như những giọt nước mắt đau thương của đất trời, khóc cho một thời lửa đạn, đất nước chia cắt như thân thể bị chia lìa. Những trái tim như ngọn lửa rực cháy tinh thần yêu nước mấy nghìn năm không bao giờ tắt. Những trái tim yêu hòa bình và tự do, khát yêu và khát sống, nhưng khi Tổ quốc đứng trước họa xâm lược, những trái tim lại hóa ngọn lửa thiêu cháy quân thù.

Nghĩa trang Trường Sơn hàng hàng, lớp lớp những bia mộ các liệt sĩ, các anh, các chị là những người con yêu của Tổ quốc. Rừng già, nắng và gió đại ngàn rì rào như tiếng của hàng vạn anh hồn liệt sĩ, như tiếng chuông đồng vọng xuyên thấu gọi về đoàn tụ, vang lên khúc nguyện cầu hòa bình trên đỉnh Trường Sơn. Quá nửa đời đau đáu về đồng đội, hôm nay giọt nước mắt của những người lính già tóc bạc màu sương gió, lòng thành cầu nguyện cho đồng đội, cầu nguyện cho hòa bình, ấm no, hạnh phúc. Trong khói hương mờ ảo, như thấy những đồng đội năm xưa trở về quây quần, đoàn tụ. Muốn nói với các anh bao điều mà nỗi xúc động cứ từng đợt nghẹn dâng trong lồng ngực. Mọi lời hứa hẹn lúc này đều là vô nghĩa, điều các anh mong đợi ở chúng tôi chính là sống làm sao cho xứng với sự hy sinh của bao người. Trên dải đất hình chữ S này, mỗi thước đất, mỗi mầm xanh, mỗi lá cây ngọn cỏ đều mang ơn các anh. Tiếng chuông thiêng liêng ngân trong trời xanh lồng lộng. Dãy Trường Sơn hùng vĩ vang khúc nguyện cầu hòa bình, khắc sâu vào lòng mỗi người con đất Việt mang trong mình dòng máu Lạc Hồng, hôm nay và mãi mãi mai sau, hãy giữ vững từng tấc đất của ông cha và dựng xây đất nước ngày càng giàu mạnh, như câu thơ của GS Vũ Khiêu khắc trên quả chuông đồng: Bát ngát Trường Sơn hồn liệt sĩ – Dạt dào Ðông Hải khí anh linh – Ba hồi chiêu mộ rung tâm trí – Muôn dặm non sông nặng nghĩa tình…

Và chúng tôi soi mình xuống dòng Thạch Hãn trong xanh. Dòng sông êm đềm trôi xuôi, sóng nước lao xao như thấp thoáng những bóng mũ tai bèo. Bãi bờ cỏ xanh ngập tràn bờ bãi kia có bao đồng đội của chúng tôi và những người dân hiền lành của nước Nam đã nằm lại? Dòng nước mặn mòi kia còn mang nặng trong lòng hình hài những người lính trẻ, những người con ưu tú của dân tộc. Ðâu đây như vẫn cất lên từ sâu thẳm tiếng gọi “Mẹ ơi!” của những đứa con yêu trước khi bị dòng nước xiết cuốn đi. Bao gia đình yên vui hạnh phúc hôm nay đã còn lưu giữ những trang thư tâm huyết của những người lính trẻ viết vĩnh biệt Mẹ, vĩnh biệt người yêu, vĩnh biệt thầy giáo, vĩnh biệt bạn bè, vĩnh biệt đồng lúa bờ tre trước khi đi vào cõi vĩnh hằng. Ðể rồi khi nghe giọng cô gái trẻ thuyết minh ở Khu di tích Thành cổ Quảng Trị đọc những vần thơ của người cựu chiến binh Lê Bá Dương trở về viếng đồng đội, chúng tôi không ai cầm được nước mắt: Ðò xuôi Thạch Hãn xin… chèo nhẹ – Ðáy sông còn đó bạn tôi nằm – Có tuổi hai mươi thành sóng nước – Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm. Có nơi nào trên trái đất này lại có nghĩa trang liệt sĩ không một nấm mồ, không rõ số lượng người đã hy sinh, không biết tên những người đã mất? Dòng sông quê hương dang tay ôm các anh vào lòng. Nghĩa trang mang tên một dòng sông. Các anh hóa tượng đài bất diệt trong lòng Tổ quốc!

Chúng tôi dự lễ cầu siêu cho các linh hồn liệt sĩ và các oan hồn trên sông Thạch Hãn. Tiếng cầu kinh như lay động đất trời. Và trong đêm, những ngọn lửa đèn trên sóng nước, rực đỏ như dòng sông lửa, con thuyền và những ngọn đèn cứ lưu luyến mãi, không chịu xuôi dòng. Có phải linh hồn của các anh đã thấu cho lòng thành, nên còn quyến luyến bên đồng đội. Và chúng tôi hiểu, đất nước có được như hôm nay là nhờ sự hy sinh to lớn của các anh trên chiến trường ngày ấy. Các anh hy sinh và tô thắm thêm mầu đỏ của lá cờ Tổ quốc. Các anh hy sinh, tiếp nối truyền thống yêu nước của cha ông từ ngàn xưa. Ðó là lương tri, là lòng tự trọng, là giá trị văn hóa cao quý mà các thế hệ người Việt Nam cần phải kế tục và trao truyền. Ngọn lửa tình yêu cuộc sống của các anh còn mãi đượm nồng trong trái tim các thế hệ hôm nay và mai sau; tiếp thêm nghị lực và niềm tin cho mỗi người dân nước Việt, xây dựng đất nước giàu mạnh, giữ vững từng tấc đất thân yêu của Tổ quốc.

XUÂN TÙNG

Mùa hè cháy tái bản sắp ra mắt độc giả

Đáp ứng yêu cầu của Ban Quẩn lý Di tích Thành Cổ Quảng Trị, đáp lại tình cảm của độc giả với cuốn nhật ký chiến tranh Mùa hè cháy: món quà trí tuệ đầy ý nghĩa, từng dòng mang hình ảnh chiến đấu hy sinh vô cùng oanh liệt của các chiến sỹ trên mặt trận Quảng Trị năm 1972, tác giả, đại tá nhà văn Quí Hải (nguyên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 đoàn pháo binh Bông lau) đã tới Nhà xuất bản Hội Nhà văn làm thủ tục tiếp tục tái bản. Mùa hè cháy tái bản lần này sẽ ra mắt độc giả nhân ngày 27 tháng 7 năm nay. Sách có thêm ảnh và một số tư liệu tham khảo của phía đối phương có giá trị.


Nhân dịp tái bản, tác giả xin chân thành cảm ơn quí độc giả đã dành tình cảm lớn cho cuốn sách, đặt biệt MÙA HÈ CHÁY đã trở thành món quà tâm linh, khách du lịch mua đọc và làm quà tặng cho người thân để ôn lại và đừng bao giờ quên những tháng ngày chiến đấu hy sinh để dân tộc ta có được ngày hôm nay.
                                                                              Quí hải

Nhật ký chiến tranh Mùa hè cháy

Nhật ký chiến tranh Mùa hè cháy của tác giả Quí Hải đã được NXB Quân đội Nhân dân và NXB Hội Nhà Văn cùng xuất bản, đã tái bản lần thứ ba và được dư luận hoan nghênh. Bắt đầu từ hôm nay tác giả Mùa hè cháy sẽ trích đoạn Nhật ký chiến tranh Mùa hè cháy lên trang haiduongblog.wordpress.com. Hy vọng đáp ứng được phần nào với độc giả còn đang tìm kiếm.

Thiếu tướng chính ủy Binh chủng Pháo binh Trần Hữu Định

MÙA HÈ CHÁY

“… sẽ góp phần trau dồi tình cảm lý tưởng cách mạng cho thế hệ hôm nay và mai sau…

Như chúng ta đã biết, trong những năm tháng chiến tranh, khi đất nước còn bị chia cắt thì Quảng Trị là vùng đất chiến lược cả của ta và địch, là cửa ngõ giữa hai miền Nam Bắc. Đối với kẻ thù, Quảng Trị là tấm lá chắn để ngăn chặn ta đưa lực lượng phương tiện và vũ khí chi viện cho miền Nam. Vì vậy Quảng Trị luôn luôn là vùng đất đối đầu giữa ta và địch, mà đỉnh điểm là mùa hè năm 1972… Và chiến công Quảng Trị là bản anh hùng ca sống mãi với mọi thời đại.

“Mùa hè cháy” là những trang nhật ký của đại tá Quý Hải nguyên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2, trung đoàn Pháo binh 38 (Đoàn pháo binh Bông Lau), nguyên đoàn trưởng đoàn Kịch nói Quân đội, viết về anh và đồng đội của anh trên chiến trường Quảng Trị những năm tháng đó. Đây không chỉ là những dòng nhật ký cá nhân, mà ở đó đại tá Quý Hải đã viết về tinh thần chiến đấu ngoan cường của biết bao chiến sỹ Pháo binh đã dũng cảm vượt qua bom đạn khốc liệt để giành chiến thắng, ở đó còn có cả những ước mơ hoài bão của tuổi trẻ cùng lý tưởng cách mạng, niềm tin về chiến thắng của dân tộc. Có thể nói đây là tác phẩm có giá trị, phản ánh trung thực những sự kiện, những nhân chứng của một thời lửa và hoa.

Cũng như bao đồng đội khác, tôi rất xúc động và tự hào khi đọc cuốn nhật ký “Mùa hè cháy” và tin tưởng rằng tác phẩm sẽ góp phần truyền lại cho các thế hệ hôm nay và mai sau tình cảm, lý tưởng cách mạng và kinh nghiệm chiến đấu đã được đúc kết bằng xương máu của các thế hệ đi trước. Hy vọng tác phẩm sẽ được đông đảo bạn đọc, nhất là thế hệ trẻ quan tâm để noi gương cha anh, nuôi dưỡng tình yêu đất nước và bản chất anh hùng cách mạng, học tập, lao động và sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghiã.

Suy nghĩ của đại tá Cao Sơn, nguyên trung đoàn trưởng trung đoàn pháo binh 38, sau khi đọc bản thảo cuốn nhật ký Mùa hè cháy, nguyên tham mưu phó quân đoàn 65 quân khu 4

Tôi Cao Sơn. Từ năm 1969 đến năm 1972 là trung tá trung đoàn trưởng trung đoàn 38 pháo binh, cùng sát cánh với đồng chí Quý Hải dự chiến dịch tiến công Quảng Trị năm 1972. Tôi rất vui và hoan nghênh khi được đọc cuốn nhật ký này. Nội dung nhật ký đã làm sống lại nhiều sự kiện chân thật, sinh động của trung đoàn 38, từ khi bước vào chuẩn bị chiến dịch đến khi kết thúc chiến dịch lịch sử.

Là một cán bộ chỉ huy quân sự gánh vác trách nhiệm nặng nề trong chỉ huy, phải xử lý những tình huống khẩn trương, có lúc rất ác liệt trong chiến đấu mà đồng chí Quý Hải vẫn tranh thủ thời gian chăm chút ghi lại tỷ mỉ cả về thời gian, địa điểm, mối quan hệ trên dưới, đồng chí, đồng bào với tình cảm tin tưởng, lãng mạn của tuổi thanh xuân. Nhất là sự kiện đập tan sự kháng cự của trung đoàn 56 Ngụy buộc chúng đầu hàng. Sau đó còn tham khảo sưu tầm nhiều tài liệu trong và ngoài nước để những ý nghĩa và công tích của trung đoàn 38 được sâu sắc, xác thực thêm. Tôi rất cảm kích và trân trọng sự cố gắng này.

Tôi tin rằng cuốn nhật ký sẽ có tác dụng rất tốt để các cán bộ trẻ pháo binh tham khảo trong học tập kỹ chiến thuật đối với một trung đoàn pháo binh cơ giới  hạng nặng trong tác chiến hiệp đồng binh chủng quy mô lớn và góp phần vào những tài liệu về lịch sử Pháo binh Nhân dân Việt Nam anh hùng.

Hà Nội tháng 10 năm 2007

Cao Sơn

Thư của đại tá Đỗ Son nguyên chủ nhiệm chính trị trung đoàn Pháo binh 38, nguyên hiệu phó chính trị trường Sỹ quan Pháo binh.

Hà Nội ngày 10 tháng 10 năm 2007

Thân gửi anh Quý Hải

Tôi đã đọc kỹ tác phẩm của anh viết về cuộc chiến tranh chống Mỹ của nhân dân ta. Cụ thể cuộc chiến đấu ác liệt, gian khổ ở mặt trận Quảng Trị năm 1972, của trung đoàn 38 pháo binh (Đoàn Bông Lau)

Tác phẩm đã giúp cán bộ chiến sỹ trung đoàn 38 pháo binh chiến đấu thời kỳ đó, trong đó có tôi nhớ lại những giờ phút oanh liệt đầy gian khổ diễn ra từng ngày, từng giờ đối với quân và dân ta ở mặt trận Quảng Trị, nhớ lại những trận chiến thắng, cả những lúc anh em đồng đội hy sinh cho trận chiến. Tác phẩm ghi lại trung thực, khách quan những diễn biến, những sự việc chân thực, rất đời thường của người lính cách mạng bộ đội cụ Hồ.

Tác phẩm không những đem lại niềm tự hào cho tôi và lớp cán bộ chiến sỹ trung đoàn đã qua chiến đấu tại mặt trận Quảng Trị thời kỳ chiến tranh mà còn có tác dụng giáo dục tốt cho lớp thanh niên sau chiến tranh đang làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ Quốc.

Thân ái

QĐND Cuối tuần Văn hóa – Văn nghệ

Thứ Tư, 30/07/2008, 09:30 (GMT + 7)

Thêm một cuốn sách “trong đó đã có lửa”


Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 Nguyễn Quý Hải (bên trái) và chính trị viên Tiểu đoàn 2 Đào Hướng (Đoàn pháo binh Bông Lau, năm 1975).

Cuốn nhật ký mô tả khá sinh động, chân thực tinh thần chiến đấu ngoan cường của biết bao cán bộ, chiến sĩ pháo binh, công binh, bộ binh và nhân dân đã dũng cảm vượt qua bom đạn khốc liệt để giành chiến thắng tại Mặt trận Quảng Trị, mùa hè 1972. Tôi mong cuốn sách có giá trị này sẽ góp phần truyền lại những kinh nghiệm chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ trong LLVT, đặc biệt là lực lượng pháo binh ba thứ quân. Đồng thời góp phần giáo dục thế hệ trẻ tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Trên đây là những lời nhận xét của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, trên trang đầu cuốn Mùa hè cháy, do NXB Quân đội nhân dân phát hành tháng 5-2008. Mùa hè cháy là cuốn nhật ký chiến tranh của Đại tá Quý Hải, ghi trong thời gian từ đầu năm 1968, khi anh từ Trường sĩ quan Pháo binh được điều về làm tiểu đoàn phó thuộc Đoàn pháo binh Bông Lau, cùng đơn vị vào chiến trường Trị Thiên, tham gia nhiều chiến dịch lớn mà tiêu biểu là “mùa hè rực lửa” năm 1972.

Thượng tướng-Giáo sư Hoàng Minh Thảo nhận xét cuốn nhật ký này đã “viết trung thực, có giá trị, rút được kinh nghiệm quý, nhất là cho các lớp chưa qua chiến đấu”. Thiếu tướng Trần Hữu Định-Chính ủy Binh chủng Pháo binh-đánh giá: “Đây không chỉ là những dòng nhật ký cá nhân, mà ở đó Đại tá Quý Hải đã viết về tinh thần chiến đấu ngoan cường của biết bao chiến sĩ pháo binh đã dũng cảm vượt qua bom đạn khốc liệt để giành chiến thắng, ở đó còn có cả những ước mơ hoài bão của tuổi trẻ cùng lý tưởng cách mạng, niềm tin về chiến thắng của dân tộc”. Đại tá Cao Sơn, nguyên Đoàn trưởng Đoàn pháo binh Bông Lau, sau khi đọc cuốn nhật ký này, đã viết: “Là một cán bộ chỉ huy chiến đấu giữa chiến trường, mà đồng chí Quý Hải vẫn tranh thủ thời gian chăm chút ghi lại tỉ mỉ cả về thời gian, địa điểm, mối quan hệ đồng chí, đồng bào… với tình cảm tin tưởng, lãng mạn của tuổi thanh xuân. Nhất là sự kiện đập tan sự kháng cự của trung đoàn 56 ngụy, buộc chúng phải đầu hàng. Sau đó còn tham khảo sưu tầm nhiều tài liệu trong và ngoài nước để những ý nghĩa và công tích của đơn vị được sâu sắc và xác thực thêm”. Một đồng đội cùng chiến hào nữa, Đại tá Đỗ Son, nguyên Chủ nhiệm chính trị Đoàn pháo binh Bông Lau, gần 40 năm sau được đọc những trang nhật ký về những ngày tháng ấy, đã viết thư cho tác giả: “Tác phẩm đã giúp cán bộ, chiến sĩ Trung đoàn pháo binh 38 (tức đoàn Bông Lau-BT) chiến đấu thời kỳ đó-trong đó có tôi-nhớ lại những giờ phút oanh liệt đầy gian khổ diễn ra từng ngày, từng giờ; nhớ lại những trận chiến thắng và cả những hy sinh của đồng đội…

Gặp mặt bạn chiến đấu Đoàn pháo binh Bông Lau, tháng 4-2006.

Tác phẩm không những đem lại niềm tự hào cho chúng tôi-lớp cán bộ, chiến sĩ đã qua chiến đấu tại mặt trận Quảng Trị thời kỳ chiến tranh-mà còn có tác dụng giáo dục tốt cho lớp thanh niên sau chiến tranh,đang làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc”…

Thiết nghĩ, giới thiệu về cuốn nhật ký Mùa hè cháy của Đại tá cựu chiến binh-nhà văn Quý Hải, không gì chính xác và thuyết phục hơn là dẫn ra những ý kiến trên đây của các tướng lĩnh, các nhà nghiên cứu và những cựu chiến binh là đồng đội của tác giả trong “mùa hè cháy” ấy. Phần tôi xin

được nói thêm: Gần ba trăm trang của cuốn nhật ký ấy đã lôi cuốn tôi một mạch như đang được đọc một cuốn truyện ký được viết bởi một cây bút khá chuyên nghiệp. Hình như ngày ấy, người Tiểu đoàn phó Quý Hải-một thanh niên trí thức xứ Đoài gia nhập quân đội trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược-vào chiến trường đã có sẵn ý thức của một nhà văn tương lai, nên những trang nhật ký của anh đã vượt lên kiểu viết nhật ký thông thường, trở thành những trang ghi chép tư liệu văn chương rất đặc sắc. Đọc nhật ký của anh, ta bắt gặp những chi tiết sinh động, những quan sát tỉ mỉ mà các nhà phê bình văn học vẫn gọi là “vốn sống thực tế” hết sức phong phú và độc đáo. Có nhiều trang nhật ký “đẹp” như một đoạn văn tự sự hoặc trữ tình của một cuốn tiểu thuyết. Nhiều mẩu chuyện thời chiến được kể với một giọng văn rất tài hoa. Chính cái chất tài hoa ấy đã cắt nghĩa vì sao sau này bước ra khỏi chiến tranh, Quý Hải đã “chuyển ngành” sang làm biên tập viên Truyền hình Quân đội nhân dân một thời gian khá lâu trước khi được bổ nhiệm làm đoàn trưởng Đoàn kịch nói Quân đội cho đến ngày nghỉ hưu. Và cũng từ đó, ngoài công tác biên tập truyền hình rồi làm quản lý một đơn vị sân khấu hàng đầu của đất nước, Quý Hải còn được biết đến với tư cách một nhà văn, một nhà biên kịch và một nhạc sĩ. Lĩnh vực nào anh cũng có những thành tựu đáng kể. Đặc biệt từ ngày nghỉ hưu đến nay anh viết càng khoẻ, hình như bao nhiêu vốn kiến thức và vốn sống tích lũy qua hai cuộc chiến tranh đang “bùng nổ” trong anh. Ngoài hàng chục vở kịch đã được dàn dựng trên sân khấu của những đơn vị nghệ thuật danh tiếng, anh còn có tám cuốn tiểu thuyết “bề thế” và nhiều kịch bản phim đã ra mắt khán giả. Trong đó, có những bộ phim truyền hình hàng chục tập đã và đang phát trên đài Truyền hình Việt Nam và đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh…

Những năm gần đây, nhiều cuốn nhật ký chiến tranh được sưu tầm, biên soạn và xuất bản đã tạo nên những hiệu ứng mạnh mẽ trong đời sống xã hội và đời sống văn học. Mỗi cuốn nhật ký chiến tranh có một số phận, hoàn cảnh mà khi đến được với độc giả đã khiến bao thế hệ xúc động, cảm phục. Tiêu biểu trong số đó là cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm, cuốn sách may mắn còn lại với chúng ta hôm nay nhờ lời can ngăn của một người lính ngụy: “Đừng đốt vì trong đó đã có lửa”. Mùa hè cháy của Quý Hải cũng là một cuốn nhật ký “trong đó đã có lửa” đúng theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Được biết, chỉ hơn một tháng sau khi NXB Quân đội nhân dân phát hành Mùa hè cháy, cuốn sách đã được NXB Hội Nhà văn tái bản lần thứ nhất 1.500 cuốn. Thêm một hiện tượng hiếm có về thời gian và số lượng tái bản trong tình hình xuất bản hiện nay. Và điều đó thêm một lần nữa đã góp phần khẳng định giá trị nhiều mặt của cuốn nhật ký chiến tranh Mùa hè cháy!

MAI NAM THẮNG

]

QĐND Cuối tuần Văn hóa – Văn nghệ

Thứ Năm, 28/08/2008, 11:13 (GMT + 7)

Dư âm từ “Mùa hè cháy”

Đại tá Nguyễn Quý Hải (bên trái) chụp ảnh kỷ niệm với cựu lái xe xích Lương Minh Nghĩa bên khẩu pháo chiến lợi phẩm “vua chiến trường” tại Bảo tàng Pháo binh, tháng 8-2008.

Báo Quân đội nhân dân cuối tuần số 657 (935) ra ngày 3-8-2008 có đăng bài Thêm một cuốn sách “trong đó đã có lửa”, giới thiệu về cuốn nhật ký chiến tranh “Mùa hè cháy” của Đại tá, nhà văn cựu chiến binh Quý Hải, do Nhà xuất bản Quân đội nhân dân phát hành đầu quý 2-2008. Cuốn nhật ký được ghi từ đầu năm 1968, khi Quý Hải từ Trường sĩ quan Pháo binh được điều về làm tiểu đoàn phó thuộc Trung đoàn pháo binh 38 (đoàn Bông Lau), cùng đơn vị hành quân vào chiến trường Trị Thiên, tham gia nhiều chiến dịch lớn mà tiêu biểu là “mùa hè rực lửa” năm 1972.

Sau khi báo phát hành, nhiều bạn đọc đã viết thư, gọi điện hoặc trực tiếp trao đổi với chúng tôi về cuốn nhật ký và bài báo giới thiệu cuốn nhật ký “Mùa hè cháy”. Đại tá, nhà báo Phạm Hồng-nguyên phóng viên mặt trận của báo Quân đội nhân dân suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược-đã đến tòa soạn góp ý trực tiếp: “Lực lượng pháo binh chủ lực tham gia chiến đấu trên mặt trận Trị Thiên từ đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, có những đóng góp to lớn, lập nhiều chiến công xuất sắc. Nhật ký “Mùa hè cháy” là những ghi chép chân thực của một cán bộ tiểu đoàn pháo binh trực tiếp tham gia chiến đấu trong những năm tháng ác liệt nhất của mặt trận Trị Thiên. Đáng tiếc là bài báo viết về cuốn sách chưa giới thiệu được “những chi tiết sinh động, những quan sát tỉ mỉ mà các nhà phê bình văn học vẫn gọi là “vốn sống thực tế” hết sức phong phú và độc đáo. Có nhiều trang nhật ký “đẹp” như một đoạn văn tự sự hoặc trữ tình của một cuốn tiểu thuyết chiến tranh. Nhiều mẩu chuyện thời chiến được kể với một giọng văn rất tài hoa” (trích bài báo)… Vì vậy, bạn đọc-nhất là bạn đọc trẻ-vẫn chưa thêm một dịp được cảm nhận về chiến trường Quảng Trị trong những “mùa hè cháy” vô cùng ác liệt ấy”.

Thư của cô giáo Trần Bích Hường từ xã Cam Tuyền, huyện Cam Lộ-Quảng Trị, viết: “Tôi đã được biết đến cuốn nhật ký “Mùa hè cháy” qua chương trình “Mỗi ngày một cuốn sách” trên Truyền hình Việt Nam (VTV1) ngày 30-4-2008, qua phóng sự trong chương trình “Giai điệu ngày mới” của Truyền hình kỹ thuật số (VTC) ngày 18-5-2008 và qua chương trình Văn hóa-văn nghệ của Truyền hình Quân đội nhân dân ngày 21-6-2008. Tuần trước, tôi lại được đọc bài giới thiệu về cuốn nhật ký chiến tranh này trên báo Quân đội nhân dân cuối tuần. Chúng tôi rất cảm kích khi có một cuốn nhật ký chiến tranh ghi chép về hoạt động của một đơn vị pháo binh ngay tại mảnh đất quê hương của thầy trò chúng tôi, trong những ngày chúng tôi chưa ra đời. Tuy nhiên, những gì giới thiệu trên đài và báo về cuốn nhật ký chỉ là trích dẫn sơ lược. Tôi rất muốn có một cuốn nhật ký “Mùa hè cháy” để được đọc trọn vẹn và làm tài liệu ngoại khóa cho học sinh về lịch sử truyền thống địa phương”.

Nhà văn Quý Hải cũng gọi điện cho biết: Anh vừa vào TP Hồ Chí Minh làm việc với Hãng phim Giải phóng về bộ phim dài tập của anh vừa khởi quay. Mấy ngày gần đây, anh liên tục nhận được điện thoại, tin nhắn của bạn bè và nhất là những đồng đội cũ ở Đoàn pháo binh Bông Lau, nói về cuốn nhật ký “Mùa hè cháy” vừa được giới thiệu trên Báo Quân đội nhân dân cuối tuần. Có một cuộc hội ngộ khá cảm động: Đồng chí Cẩn là cán bộ đại đội trắc địa đang nghỉ hưu ở TP Hà Đông, sau khi đọc báo đã tìm mua được một cuốn “Mùa hè cháy”. Đọc sách, thấy nhiều lần thủ trưởng Hải nhắc đến Lương Minh Nghĩa, chiến sĩ lái xe xích ATC 55, trong đó có đoạn Nghĩa đã cùng với một lái xe ngụy là hàng binh thuộc trung đoàn 56 của trung tá Phạm Văn Đính, lái khẩu pháo tự hành 175mm “vua chiến trường” từ căn cứ Carrol (cao điểm 241) về hậu cứ. Lương Minh Nghĩa là đồng hương Quốc Oai-Hà Tây với Cẩn, thế là ông vội mang sách về quê khoe. Bấy giờ cả làng mới biết Nghĩa đã từng là “người hùng”. Còn Lương Minh Nghĩa thì tức tốc đạp xe ra Hà Nội tìm đến thăm thủ trưởng Hải, được thủ trưởng lấy xe máy chở lên phố Đội Cấn thăm Bảo tàng Pháo binh,

lại được đồng chí Giám đốc bảo tàng chụp cho mấy kiểu ảnh anh đứng bên khẩu “vua chiến trường” hiện vật lịch sử…

Một cuộc gặp gỡ khác giữa tác giả Quý Hải với bà An Thị Trường Giang, vợ nhà báo Nguyễn Thắng-cựu phóng viên Báo Quân đội nhân dân-cũng hết sức bất ngờ và cảm động: Sau nhiều ngày bị Đoàn pháo binh Bông Lau dội lửa không thể ngóc đầu nổi, ngày 2-4-1972 trung đoàn 65 ngụy tại căn cứ Carrol đã liên lạc với đoàn Bông Lau “xin các ông ngừng bắn để ra đầu hàng”. Nguyễn Thắng là nhà báo chiến trường duy nhất đã chứng kiến từ đầu đến cuối cuộc tiếp nhận trung đoàn hàng binh này và trực tiếp dẫn hai viên trung tá là Phạm Văn Đính và Vĩnh Phong (trung đoàn trưởng và trung đoàn phó trung đoàn 56 ngụy) về tuyến sau. Mấy năm gần đây, vì tuổi cao sức yếu, cựu phóng viên Nguyễn Thắng mắc chứng bệnh mất trí nhớ. Nhờ đọc “Mùa hè cháy”, vợ và các con của ông mới biết được sự kiện quan trọng này trong cuộc đời làm phóng viên mặt trận của ông. Bà Giang đã liên lạc được với tác giả Quý Hải, đến thăm ông tại nhà riêng, hỏi thêm những chi tiết liên quan đến chồng mình trong thời gian ông cùng đoàn Bông Lau chiến đấu ở Quảng Trị…

Cũng trong cuộc hội ngộ trên đây, bà An Thị Trường Giang còn mang tặng tác giả Quý Hải một bài thơ bà làm sau khi đọc tác phẩm “Mùa hè cháy”. Cảm xúc dào dạt, lời thơ da diết, ý thơ nồng nàn… Rất tiếc vì khuôn khổ bài báo có hạn, chúng tôi không thể giới thiệu bài thơ cảm động này với độc giả. Cũng như vì khuôn khổ bài báo mà chúng tôi chưa đáp ứng được nhu cầu thưởng thức văn chương và tìm hiểu lịch sử của độc giả khi giới thiệu cuốn nhật ký “Mùa hè cháy” của Đại tá, nhà văn Quý Hải. Rất mong quý độc giả lượng thứ!

MAI NAM THẮNG

Bài thơ tâm tình của chị Giang, vợ nhà báo Nguyễn Thắng

27/7/2008
Đúng ngày kỷ niệm thương binh liệt sỹ, chị Giang vợ nhà báo Quân đội Nguyễn Thắng, người đã có mặt tiếp nhận sự đầu hàng của trung đoàn 56, đến thăm và gửi cho tôi món quà tinh thần quí giá. Đó là bức thư tâm tình của chị. Tôi xin trích đăng một đoạn dưới đây:
Hà Nội ngày 26 háng 7 năm 2008
Thân gửi anh chị Quý Hải mến yêu.
Anh Quý Hải đến nhà tôi thăm anh Thắng và gia đình, tặng quyển nhật ký “Mùa hè cháy” của anh, thật quí hơn vàng, vì đây là sự thật khốc liệt nhưng anh hùng của quân đội ta. Là trang sử oai hùng, toàn dân ta sẽ đọc mãi, giữ mãi nghìn năm như thời Vua Quang Trung , để giáo dục thanh niên. Riêng gia đình tôi có anh Thắng đóng góp vào chiến thắng rực lửa Quảng Trị, mình càng mến yêu chồng, càng tự hào…
Cuối thư chị có tặng tác giả bài thơ:
Người xả thân bắn giỏi, ghi nhật ký nhanh
Cảm ơn anh Hải anh hùng.
Ghi trang nhật ký giữa vùng đạn bom.
Quyết ghi lấy cảnh chiến trường.
Giữa trời Thành Cổ tan xương không rời
Tay cầm giấy bút trong tay.
Ghi lấy cảnh sử từng ngày chiến tranh
Bi – hùng càng say lòng anh.
Cả hai nhà Báo ghi thành chiến công (Anh Hải, anh Thắng)
Thế hệ sau đọc càng rung…

Cuối bài thơ chị còn chú thích:
Mình nhớ mãi câu: “đồi cháy, súng cháy, người cháy, cả mùa hè cháy”

An Thị Trường Giang
Số 3, ngõ 4 đường 800A Nghĩa Đô, Cầu giấy

Nhật ký chiến tranh Mùa hè cháy do Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân ấn hành, đã ra mắt độc giả đúng vào dịp 30 tháng 4 và ngay trong tuần đầu đã được đài truyền hình trung ương giới thiệu trong chương trình Mỗi ngày một cuốn sách trên VTV1.

Sách cũng đã nhanh chóng có mặt tại các quầy sách của tỉnh Quảng Trị, đặc biệt ở Thành Cổ Quảng Trị.

Trong ngày giới thiệu tác phẩm mới hàng tháng tại Hội Âm nhạc Hà Nội cùng một lúc Nhạc sỹ Phạm Tuyên, nhạc sỹ Hoàng Giai gặp tôi vui vẻ bắt tay, các anh nói nhật ký Mùa hè cháy làm sống lại những kỷ niệm một thời hào khí của đất nước, làm sống lại những ngày tháng đầy ý nghĩa của tuổi trẻ các anh.. Cũng trong buổi này tổ làm phim của đài truyền hình kỹ thuật số VTC đã kịp thời phỏng vấn tôi về cuốn sách và phát trong chương trình Giai điệu ngày mới ngày 18 tháng 5.

Chị Việt nguyên hiệu trưởng trường chuyên ngữ đại học Quốc gia, vợ liệt sỹ, gặp tôi mấy lần nhắc tới cuốn sách. Chị nói: ”Tôi bảo các con tôi phải đọc Mùa hè cháy để hiểu thế hệ cha anh các con đã chiến đấu như thế nào…”

Đang có mặt ở Hãng phim Giải phóng thành phố Hồ Chí Minh thì nhận được điện từ Hà Tây gọi tới. Số điện lạ. Thì ra đó là điện của Tân, nguyên là cán bộ trung đội thuộc đại đội 5 của tiểu đoàn thời kỳ chiến đấu ở Quảng Trị. Thấy truyền hình giới thiệu sách Mùa hè cháy của tôi, Tân cùng Cẩn trên đại đội 14 và Hồng trên Bộ Tư lệnh pháo gọi điện tới mấy nơi xin địa chỉ và số điện của tôi.

Tôi xúc động và hẹn gặp nhau ngay sau khi tôi ra Hà Nội.

Cẩn, cán bộ của đại đội trắc địa thuộc trung đoàn bộ, người cùng quê với Lương Minh Nghĩa lái xe xích ATC 55 của tiểu đoàn. Lương Minh Nghĩa cũng là chiến sỹ lái xe dũng cảm, anh đã vào căn cứ Carroll (241) cùng với hàng binh Hẩu lái pháo tự hành 175 vua chiến trường ra điểm an toàn ngay khi địch vừa mới đầu hàng. Vậy mà quê hương đâu có biết anh đã từng có những ngày chiến đấu oanh liệt như vậy.  Đọc trong Mùa hè cháy Cẩn thấy hai lần sách nhắc đến Nghĩa. Anh vội vàng đem sách về quê đọc cho cả nhà Nghĩa nghe. Nghĩa cảm động rớt nước mắt. Anh đạp chiếc xe đạp cũ kỹ từ quê đến thăm tôi, đằng sau có buộc túi quà gạo nếp quê hương. Thủ trưởng, chiến sỹ gặp nhau thật cảm động. Chiến tranh, anh lái cả vua chiến trường bây giờ anh chỉ còn lái được xe đạp. Tôi lấy xe máy tự tay đèo Nghĩa tới bảo tàng pháo binh, Nghĩa cảm động được đồng chí giám đốc bảo tàng chụp cho liền mấy kiểu ảnh, rửa tức thì và đem liền về quê khoe với bạn bè làng xóm.

Nhân ngày Nhà báo, đài truyền hình Quân đội đã tới nhà riêng quay phim phóng sự về tôi, về cuốn sách và những năm tháng tôi làm đoàn trưởng đoàn Kịch nói Quân đội. Cũng là lúc đại tá Bồi, nguyên đại đội trưởng đại đội 6 của tiểu đoàn cùng vợ chồng Tân, thượng tá Hồng và Cẩn đại đội 14 tới thăm tôi.

NSƯT Mạnh Cường nguyên là diễn viên của đoàn, hiện là trưởng phòng nghệ thuật của sở Văn hoá Hà Nội phát biểu, theo ý riêng anh thì thời kỳ tôi làm đoàn trưởng đoàn Kịch nói Quân đội là thời kỳ rực rỡ của đoàn. Còn NSƯT thượng tá Minh Hằng hiện là đoàn phó đoàn Kịch nói về những gì tôi đang làm với niềm đam mê ở tuổi 76.

Những lời phát biểu của bạn bè là sức mạnh tinh thần sức mạnh tình cảm giúp tôi tiếp tục làm việc. Thực sự tôi chưa nghĩ tới nghỉ ngơi mặc dù đã ở  tuổi 76.

Anh Phi, anh Phú, An, cán bộ của bảo tàng lịch sử quân sự trung ương tới nhà gặp tôi xin lại những kỷ vật chiến tranh. Tôi đã trao cho các anh tấm bản dồ có vẽ các đoạn pháo bắn trong đợt ba chiến dịch ở khu vực phía nam sông Mỹ Chánh. Một bản nhật ký tác chiến có ghi rõ các đoạn bắn, ngày bắn, số đạn tiêu thụ, kết quả bắn và bản tổng kết chiến dịch. Tôi cũng tặng bảo tàng cuốn nhật ký chiến tranh Mùa hè cháy và mấy lá thư xúc động của chú em, Quý Thường, chiến sỹ cao xạ 12,7mm, thuộc sư đoàn 320 chiến đấu ở Quế Sơn, Quảng Nam gửi dặn dò tôi trước khi ra mặt trận.

Từ những hiện vật tôi lưu giữ suốt ba mươi năm qua này, có thể những chữ đã nhòa đi qua thời gian nhưng đó chính là điều tôi muốn thay lời gửi gắm tới các bạn chiến đấu và những người chiến sỹ trẻ hôm nay.

Tôi được mời tới dự buổi lễ phát kỷ niệm chương của mặt trận B5 tại hội trường Công đoàn thành phố Hà Đông. Sau ba mươi sáu năm tôi được nhận kỷ niệm chương của mặt trận B5. Vậy là mặt trận vẫn chưa quên những người như tôi.

Cũng ngày hôm nay một niềm vui mới lại đến với tôi, đó là cuốn sách Mùa hè cháy chỉ sau hai tháng đã được Nhà xuất bản Hội Nhà văn tái bản.

Đúng ngày kỷ niệm thương binh liệt sỹ, chị Giang vợ nhà báo Quân đội Nguyễn Thắng, người đã có mặt tiếp nhận sự đầu hàng của trung đoàn 56, đến thăm và gửi cho tôi  món quà tinh thần quí giá. Đó là bức thư tâm tình của chị. Tôi xin trích đăng một đoạn dưới đây:

Hà Nội ngày 26 háng 7 năm 2008

Thân gửi anh chị Quý Hải mến yêu.

Anh Quý Hải đến nhà tôi thăm anh Thắng và gia đình, tặng quyển nhật ký “Mùa hè cháy” của anh, thật quí hơn vàng, vì đây là sự thật khốc liệt nhưng anh hùng của quân đội ta. Là trang sử oai hùng, toàn dân ta sẽ đọc mãi, giữ mãi để giáo dục thanh niên. Riêng gia đình tôi có anh Thắng đóng góp vào chiến thắng rực lửa Quảng Trị, mình càng mến yêu chồng, càng tự hào…

Cuối thư chị có tặng tác giả bài thơ:

Người xả thân bắn giỏi, ghi nhật ký nhanh

Cảm ơn anh Hải anh hùng

Ghi trang nhật ký giữa vùng đạn bom.

Quyết ghi lấy cảnh chiến trường.

Giữa trời Thành Cổ tan xương không rời

Tay cầm giấy bút trong tay.

Ghi lấy cảnh sử từng ngày chiến tranh

Bi – hùng càng say lòng anh.

Cả hai nhà Báo ghi thành chiến công (Anh Hải, anh Thắng)

Thế hệ sau đọc càng rung…

Cuối bài thơ chị còn chú thích:

Mình nhớ mãi câu: “Đồi cháy, súng cháy, người cháy, cả mùa hè cháy”

An Thị Trường Giang

Số 3, ngõ 4 đường 800A Nghĩa Đô, Cầu giấy

K

ĐƯỜNG RA MẶT TRẬN

5/3/68

N

gày 13 tới tôi sẽ rời mái trường Sỹ quan Pháo binh lên đường ra mặt trận. Mỹ đã tuyên bố chúng sẽ dùng không quân oanh tạc thường xuyên từ vĩ tuyến 19 trở vào. Liệu có thể ngồi yên.

1956 – 1968 mười hai năm gắn bó với trường sỹ quan, tôi đã giảng dậy môn toán cho các đồng chí học viên đi tham gia cải cách ruộng đất về, đào tạo thành sỹ quan pháo binh. Tôi đã tham gia giảng dậy môn địa hình, đo đạc cho hàng ngàn học viên của các khóa đào tạo ngắn hạn, dài hạn để anh em có thể nắm chắc địa hình, biết xác định chính xác vị trí mình đang đứng trên bản đồ, biết mở đường mà đi theo hướng phương vị, giúp cho các anh giữ vững phương hướng trên đường Trường Sơn vào chi viện cho cách mạng miền Nam.

Giờ thì đến lượt tôi. Chính tôi, người giáo viên đã bồi dưỡng cho anh em khoa trinh sát địa hình, lên đường vào mặt trận.

Chiến dịch tiến công xuân Mậu Thân 1968 đã mở ra triển vọng mới của cách mạng miền Nam. Chiến tranh cục bộ do Mỹ phát động từ năm 1965 đã vấp phải sức kháng cự mãnh liệt của quân dân miền Nam, buộc chúng phải rút quân từng phần để thay bằng chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh. Chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ đã lan ra toàn miền Bắc. Lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam đứng trước vận hội lớn của đất nước. Chiến trường cần đến những người như tôi.

Hà Nội những ngày này hừng hực không khí chiến tranh.

Tâm Tình giáo viên trinh sát, mới đi chiến đấu phòng ngự ở bờ biển về. Biết tôi sắp vào chỉ huy pháo phòng ngự bờ biển ở Vĩnh Linh, anh đã tới thăm và nói cho tôi kinh nghiệm sử dụng rada trong chỉ huy pháo bắn các mục tiêu trên biển. Tôi đã trao đổi với Phiếu, Trứ, Hà về những kinh nghiệm giao hội mục tiêu di động trên mặt biển trong đêm tối.

7/3/68

Chúng tôi đào công sự trú ẩn ở Xuân Khanh để chuẩn bị sơ tán phòng không. Trường Sỹ quan Pháo binh là một trong những mục tiêu quan trọng mà không quân Mỹ đã đánh dấu trên bản đồ Tôi với Phiếu Béo đào chung một hố. 10 giờ, tôi mang kẹo vừng ra khao anh em, đúng lúc mọi người mệt và khát. 12 giờ trở về trường. Hiệu đèo tôi bằng chiếc xe con nít Liên Xô. Thật là xiếc. Sắp xa Hiệu, thằng bạn lành như đất, nông dân đặc sệt, lúc nào cũng cười hề hề, anh em biết nhau từ ngày còn ở trung đoàn pháo 237 thời kỳ đánh Điện Biên.

Về trường, tôi xúc động khi nghe tin các lớp khóa 5 hoãn thực tập, chuyển sang học bộ binh pháo để kịp ra mặt trận. Tình hình khẩn trương.

8/3/68

Bảy mươi vạn thanh niên của bảy tỉnh thành xung phong tòng quân. Đồng chí Tòng, Vũ bên thông tin hết hạn nghĩa vụ xin nhà trường cho ở lại quân đội. Chị Thuận nhân viên nấu ăn xin cho chồng trở lại nhập ngũ. Cách mạng miền Nam có chuyển biến quan trọng. Nội bộ kẻ thù nát như tương, giữa Mác-na-ma-ra và Tay-lo, giữa các phe phái ngụy quyền. Lực lượng trung gian ngả về phe cách mạng. Nhân dân đô thị vùng lên biểu tình đòi tự do hòa bình thống nhất trung lập. Khu 5, Bình Định giải phóng phần lớn. Hai phần ba đất đai Quảng Trị được giải phóng.

16/3/68

Tôi chính thức được điều về làm tiểu đoàn phó tiểu đoàn 2, trung đoàn 38 pháo binh dự bị của bộ Tổng. Trung đoàn được xây dựng trên cơ sở trung đoàn pháo sư bộ binh 38 thuộc sư đoàn 308, nhằm tăng cường lực lượng hỏa lực chi viện cho quân giải phóng miền Nam đánh bại hoàn toàn chiến tranh cục bộ của đế quốc Mỹ và đập tan chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh.

Đạp xe từ Sơn Tây về nhà, suy nghĩ mông lung. Về tới nhà còn đắn đo mãi, nhưng rồi cũng phải báo tin để gia đình biết tôi sắp ra mặt trận. Làm giáo viên của trường sỹ quan từ năm 1956 đến nay, đây là lần đầu tôi xa đơn vị lâu ngày. Không, không phải chỉ xa mà rất có thể là đi hẳn. Là một trong số giáo viên trinh sát giỏi chiến kỹ thuật, đặc biệt môn bản đồ, địa hình và trắc địa. Đã được nhà trường cho dự lớp toán cao cấp giải mạng tam giác bằng log chín chữ số, đảm bảo phần tử tinh mật cho pháo bắn tầm xa, đã được ngồi trên máy bay thực tập quan sát mục tiêu, tôi hiểu, để chuẩn bị cho những trận đánh lớn bằng pháo lớn, đây là cơ hội và trách nhiệm cho những người như tôi.

Ít phút thư giãn trong những ngày cuối cùng trước khi ra mặt trận, tôi ngồi trên chiếc ghế gỗ, bé Hồng con gái đầu lòng ngồi trên thành giường. Đôi tay búp măng trắng nõn nhỏ nhắn của nó dũi mãi vào mớ tóc rễ tre của tôi, cứ chọn những sợi tóc màu hung hoặc nửa đen nửa trắng.

– Con rất thích nhổ những sợi tóc này.

Hồng giơ cái tóc màu hung khoe với mẹ. Duân, vợ tôi ngồi phía sau hẩy tay Hồng ra, kéo đầu tôi vào ngực. Đôi tay Duân thoăn thoắt nhổ không lẫn một cái nào. Chợt Hồng nhổ cả cụm ba bốn sợi đen lẫn trắng làm tôi giật thót. Hai mẹ con cười rộn lên.

Đâu đó một điệu hò miền trung trên sóng phát thanh dìu dặt, da diết đưa tôi đến với miền đất tôi sẽ sống những năm tháng tới. Miền đất Vĩnh Linh khói lửa đau thương làm nhức nhối lòng người.

Hai năm trôi qua, hiệp định hiệp thương hoà bình thống nhất đất nước đã bị Nguỵ quyền Sài Gòn xé bỏ. Chẳng những thế Ngô Đình Diệm còn ban hành luật 10-59 ngang nhiên lê máy chém đi khắp bốn quân khu để tàn sát những người mà chúng cho là có liên quan đến Cộng sản.

Dòng sông Hiền Lương hiền hoà nối liền Bắc Nam một dải trở thành dòng sông chia cắt. Hàng rào điện tử Mác-na-ma-ra ngày một dày thêm, dài ra, cùng với lực lượng không quân chiến lược B52, các loại phi cơ phản lực, các loại pháo mặt đất, pháo hạm đội tạo bức thành hoả lực hòng chặn đứng đường dây liên lạc giữa bà con ruột thịt hai miền Nam Bắc.

Chủ nhật 4/4/68

Từ sớm tôi đi thăm Thường, chú em út, giáo viên trường cấp hai Tân Hội, nhập ngũ vào đơn vị súng máy cao xạ 12,7mm đóng ở Vĩnh Tuy, nhưng không gặp. Tôi được một cán bộ trong đơn vị của Thường cho biết: Thường là pháo thủ số một, có nhiều thành tích, đựơc bầu xuất sắc nhiều lần. Đơn vị Thường đã hành quân ra mặt trận từ lâu, anh bạn chỉ huy đơn vị của Thường nói nhỏ cho tôi biết có thể đơn vị vào chiến trường Quảng Nam. Liệu Thường có dấn tới mặt trận miền Đông, nơi Thanh, anh trai, chuẩn úy văn công Tổng cục đang tham gia chiến đấu.

Chỉ còn ít ngày nữa tôi cũng lên đường ra mặt trận. Nếu sang đất Lào tôi có thể gặp em Quý Sơn đang là bác sỹ chuyên gia y tế cho quân đội Pathét Lào. Vào Quảng Nam sẽ gặp được Quý Thường chiến sỹ cao xạ 12,7mm của sư đoàn bộ binh 320 và vào miền Đông sẽ gặp được Quý Thanh văn công quân khu 6. Bốn anh em tôi mỗi người một chiến hào. Không chỉ gia đình tôi, biết bao gia đình trên đất nước này đều như thế.

Chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ ngày càng trở nên nghiêm trọng. Vào hồi 9 giờ sáng có hai tốp phản lực và nhiều máy bay vận tải bay qua bàu trời Hà Nội. Về tới nhà chị Hòa ở 46 Ngõ Huyện một lát thì còi báo động vang lên, nhân dân nhanh chóng tản vào hầm trú ẩn. Các trật tự viên, công an vẫn bình tĩnh gan dạ đứng gác trên các đường phố. Đài truyền thanh Hà Nội vang lên tiếng nói của đồng chí Trần Duy Hưng động viên quân dân thủ đô quyết đánh thắng đế quốc Mỹ.

Còi báo tan, tôi đạp nhanh ra phố để tận mắt thấy khung cảnh chiến đấu của thủ đô. Nhân dân từ trong các nhà tỏa ra. Người đâu mà lắm thế. Hà Nội vẫn đông đảo, bình tĩnh, gan dạ.

Trên đường về Hà Đông, tôi gặp từng tốp bộ đội ở ngã ba đường, khoác ngụy trang sẵn sàng súng chắc trong tay. Từng đội tự vệ nam nữ, từng tổ săn máy bay của Cao Xà Lá, của Cơ khí Trung quy mô, súng đạn và túi cứu thương trên vai nai nịt gọn gàng đang trên đường trở về vị trí sản xuất.

Buổi tối thật cảm động khi nghe đài phát thanh đưa tin số máy bay địch bị ta bắn rơi không phải lả 19 chiếc như sáng thông báo mà là 32 chiếc. Năm chiếc rơi ở Thanh Hóa. Hoan hô không quân trẻ tuổi của ta.

Ngày cuối năm 1968

Trước khi chính thức đảm nhận chỉ huy đơn vị, tôi được cử đi dự lớp huấn luyện đặc biệt. Đặc biệt ở chỗ bất kể anh thuộc quân binh chủng nào nhưng tới dự học đều phải học cương lĩnh chính sách của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam, đều phải học sử dụng thành thạo lựu đạn, súng bộ binh, pháo vác vai và hành quân bộ mang vác nặng.

Ngày ngày chúng tôi tập hành quân bộ. Lúc đầu mỗi ngày năm bảy kilômét với trọng lượng mang vác trên lưng mươi mười lăm kilôgam. Sau một tháng luyện tập nâng lên mỗi ngày hành quân mươi mười lăm kilômét với trọng lượng gạch mang vác trên lưng trên dưới hai mươi kilôgam. Những ngày cuối khoá hành quân đêm đoạn dường xa tới ba bốn mươi kilômét với trọng lượng trên lưng nặng tới bốn năm mươi kilôgam.

Mấy kiêu gạch đơn vị mua về để xây dựng lầu bắn, chỉ một buổi chiều hết bay. Anh thợ cả nhăn nhó trình bày với cán bộ là anh ta rất có trách nhiệm không cho ai, cũng không dám tham ô mang về nhà vậy mà… Đến khi biết được chúng tôi mượn để luyện tập đeo gạch thì anh thở phào nhẹ nhõm và sung sướng.

Những chiếc ba lô được xếp gạch đầy, vuông vức ngày ngày trên vai, khi thì hành quân theo trục Lầu bắn, Thanh Vị, Đá Chông, đỉnh Ba Vì… khi thì Ái Mỗ, Mía, Đường Lâm, Trung Hà… khi thì Nhà Bằng, nông trường Sữa, đỉnh Ba Vì, Xuân Khanh, Suối Hai… khi thì giáo viên đưa cả đội hình rẽ rừng, vượt phương vị rồi bỏ đó để mỗi học viên tự xác định phương hướng tìm đường về.

Lúc đầu để theo kịp mọi người, tôi rất vất vả, bởi tôi gốc là lính pháo, lại là giáo viên, quen một bước lên xe. Mấy thằng bạn cười giễu khi thấy trên ve áo tôi mang phù hiệu lính “Chân đồng vai sắt” mà mới hành quân vài chục kilômét vai đã trầy, chân đã cà nhắc.

Cuối cùng thì chẳng cứ tôi, lính gốc pháo binh cơ giới mà cả mấy lính bên quân chủng không quân sang học cũng đều tốt nghiệp khoá học trăm phần trăm và được tặng “Chiếc gậy Trường Sơn“.

Khoá học đặc biệt không còn trọn vẹn tới cuối cùng, một số đã có lệnh lên đường từ giữa khoá, một số đi sớm ít ngày và cả khoá cũng rút ngắn thời hạn.

Sau khoá học, tôi được về phép tranh thủ. Duân nghỉ mấy buổi dạy học để chuẩn bị cho tôi đi B. Nhìn những thứ Duân chuẩn bị tôi không lý giải được vì sao Duân lại biết tường tận những thứ cần thiết cho người lính đi chiến trường đến như thế. Thì ra Duân chuẩn bị theo lời dặn trong thư chú Thường em trai từ chiến trường gửi về. Tuy còn ít tuổi nhưng Thường đã đi trước tôi một bước, nó đã hoàn thành xuất sắc chặng đường hành quân bộ dài hàng ngàn kilômét từ Hà Tây vượt Trường Sơn vào chiến đấu ở mặt trận Quảng Nam.

“Anh yêu quý. Em chưa hình dung được chuyến đi này của anh sẽ ra sao nhưng chắc rằng không phải kéo dài những chuỗi ngày hành quân gian khổ như em. Dù sao anh phải lo chu đáo những điều tối thiểu, cũng là kinh nghiệm xương máu của chính em.

Phải mang tiền để chi tiêu cần thiết dọc đường. Mang polyvitamin, B1, C để tẩm bổ, chống phù. Cho gộp vào một lọ. Nếu mang được một hộp sữa đặc thì tốt. Ở Quảng Trị, Thừa Thiên khỏi lo nhưng vào tới Quảng Nam thì cực lắm. Cái gì cũng thèm. Kèm theo là rau muống khô, bột rau cải. Có thể thịt hộp ăn chán mà rau không có lấy một ngọn. Mang theo cân sữa bột. Suốt chặng đường hành quân hàng ngàn cây số em chỉ được uống một chén sữa. Uống hết nửa chén lại đổ thêm nước cho đầy. Nhạt thèo mà vẫn thấy ngon.

Mang một đôi bít tất dài để khi hành quân tới chặng nghỉ, trời tối, mệt, buồn ngủ, chân còn dính bùn đất, địa điểm trú quân không có nước, thì sỏ ngay bít tất vào vừa chống được muỗi vừa khỏi bẩn võng. Mua ít bút máy, kim băng, kẹp tóc, gương soi để đổi dân lấy gạo những lúc đói ăn. Tem thư để gửi tay ra Bắc. Một miếng nilon để lót đít và ba lô khi nghỉ dọc đường.

Vào trong đó ngủ võng chú ý cách buộc. Có cách buộc khi tháo rất nhanh. Mắc võng thấp để nếu bị máy bay thả bom toạ độ bất ngờ, khi nghe tiếng rít lăn ngay xuống đất nằm im sau đó có thời cơ thuận lợi mới xuống hầm… À nếu có gì riêng tư cần báo cho gia đình sợ kiểm duyệt không chuyển thì vẫn viết nhưng viết mỗi chỗ một chữ rồi gạch đi coi như viết nhầm…“

Tôi mỉm cười và mừng cho cậu em trai cưng nhất đã sớm trưởng thành trong chiến đấu.

8/1/69

Tiểu đoàn đã có lệnh chuẩn bị hành quân đường dài vào Vĩnh Linh. Hành quân không phải bằng đôi chân với dép lốp chúng tôi đã khổ luyện mấy tháng trời ở khoá học đặc biệt mà bằng đôi chân xích của xe kéo pháo hạng nặng.

Vậy là từ nay trung đoàn không còn là trung đoàn hòa bình nữa, không còn nằm ẩn giấu trên mảnh đất Hòa Bình yên tĩnh và kín dáo này nữa. Những cỗ máy xe kéo hạng nặng đã được khởi động vang rừng.

Không khí buổi trao nhiệm vụ vừa xúc động vừa trang nghiêm. Tôi và các đồng chí chính trị viên thay mặt đơn vị đứng lên hạ quyết tâm thực hiện mệnh lệnh chỉ thị của trung đoàn, lãnh đạo chỉ huy đơn vị hành quân tới đích trăm phần trăm quân số, đúng thời gian, bí mật và an toàn tuyệt đối. Dọc đường sẵn sàng chiến đấu cao, tới nơi chiến đấu được ngay khi có lệnh. Đã chiến đấu là chiến thắng.

Niềm xúc động trong tôi như được nhân lên bởi không chỉ những gì cụ thể nói ra được bằng lời mà còn những gì như là một mạch ngầm đang chảy xiết dưới đó.

Tôi cùng các đồng chí trong chỉ huy xuống triển khai phương án hành quân trực tiếp tại các đại đội. Xe pháo được kiểm tra nghiêm ngặt từ hệ thống phanh, từ dầu máy, đến nhiên liệu mang theo trên xe. Những tình huống xấu có thể xảy ra trên đường hành quân và cách xử lý được phổ biến cặn kẽ tới các khẩu đội trưởng và trực tiếp là lái xe.

Công việc chồng chất và cấp bách. Cán bộ, chiến sỹ làm việc tối tăm mặt mũi, từ tinh mơ thông tầm cả trưa đến nửa đêm, cho tới khi xuất phát.

Đêm  8/1/69

Từ ngã ba Xuất Hóa, Hòa Bình, tiểu đoàn xuất phát vào lúc hoàng hôn, trời chạng vạng. Mười hai xe đại xa, vừa xe kơra, vừa xe xích ATC kéo mười hai khẩu pháo nòng dài nguỵ trang phủ kín từ đầu xe tới đuôi, nghễu nghện trên đường, cùng các xe gát làm nhiệm vụ tiền trạm, trinh sát, hậu cần nối nhau thành một đội hình dài tới vài kilômét. Những dải sáng của đèn xe rọi vào lớp bụi dày đặc từ mặt đường bốc lên rồi toả sang hai bên thành xe, cuồn cuộn như sóng mà có lúc tôi ngỡ như xe mình đang cất cánh bay nhanh tới tiền phương.

Bà con Lương Sơn, Hà Tây, Ninh Bình… nghe đất rung chuyển ào ra vẫy chào các chiến sỹ pháo binh thân yêu. Trong ánh sáng đèn đã nhuộm vàng bởi cát bụi, các chiến sỹ có gia đình họ hàng ven đường hành quân cố nhận ra người thân. Một chiến sỹ trẻ reo lên rất to như muốn át cả tiếng xe xích: “Mẹ!… Con đây… Bê đây!…” và Bê cùng anh em trong khẩu đội đã xúc động khi thấy người mẹ thân yêu của anh đã nghe thấy và đáp lời: “Bê!…” Anh em trong khẩu đội không ai bảo ai nhao nhao đáp: “Mẹ!…”, “Bê của mẹ đây!…”, “Chúng con là Bê của mẹ đây!…”

Khi qua mấy thị trấn các chiến sỹ trên xe say sưa hát vang bài ca Giải phóng Miền Nam, bài ca Chiến thắng Điện Biên “… Dọc đường chiến thắng ta tiến về, đoàn dân công tiền tuyến vẫy chào pháo binh vượt qua, súng đại bác cuốn lá nguỵ trang từng đàn bươm bướm trắng cuốn lá nguỵ trang…” Lời ca giai điệu và tiết tấu bài hát làm cho tôi như được sống lại không khí quyết chiến quyết thắng của những năm kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp tại chiến dịch Trần Đình ở Điện Biên Phủ.

Trong lúc đơn vị hừng hực khí thế trên đường xuất quân thì tôi đang còn canh cánh nỗi lo. Bởi trung sỹ Quyết-tý-bồ khẩu đội phó về tranh thủ đưa vợ đi đẻ chưa lên kịp. Tiểu đoàn buộc phải báo cáo lên trung đoàn, đành rằng báo cáo thiếu quân số ngay chặng đầu hành quân đi chiến đấu là điều chẳng hay ho gì.

Rất may khi đội hình hành quân của tiểu đoàn tới địa phận Hà Nam, Quyết đã đón sẵn ở đó. Anh ta sung sướng reo lên, lúc đầu tưởng anh ta mừng vì đón được đơn vị, nào ngờ anh ta reo lên sung sướng báo cho mọi người biết mình đã có con trai.

“Tiểu doàn phó… Con trai!… Con trai!…”.

Hành quân của pháo binh cơ giới thật hùng dũng, hoành tráng. Những đôi mắt nụ cười cảm phục, tin yêu, đợi chờ của bà con, của các mẹ, các chị, các o ven đường hành quân làm cho mỗi cán bộ chiến sỹ của tiểu đoàn thấy tự hào và vợi đi nỗi nhớ riêng tư.

Một đoàn tầu quân sự sơn nguỵ trang loang lổ vượt lên trước đội hình xe pháo của tiểu đoàn. Trên tàu những chiến sỹ ngồi chen chúc trong những toa đen, toa để xe tăng, tên lửa. Chúng tôi vẫy chào và hẹn gặp nhau ở chiến trường. Một hồi còi tàu dài, giọng trầm nặng nề nhưng hồ hởi vang lên như một lời chào của đồng chí lái tàu gửi tới các chiến sỹ pháo binh.

Bỗng con tàu hãm tốc độ lại. Nó lấy đà thận trọng trườn qua chiếc cầu Hàm Rồng mất nhịp chênh vênh mang trên mình đầy vết đạn. Dưới lòng cầu dòng sông hiện ra đen sì loang loáng ánh nước phản chiếu từ ánh lửa hàn trên cầu rọi xuống. Đoàn tàu quân sự và đoàn xe kéo pháo cùng vượt cầu Hàm Rồng trong ánh chớp của lửa hàn, của cao xạ, của bom rơi. Cảnh đêm hoành tráng đó làm cho chiến sỹ của tiểu đoàn thực sự xúc động, tự hào và cảm thấy mình đã bắt đầu vào cuộc chiến.

Đêm 9/1/69

Tôi ngồi trong ca bin chiếc xe xích đầu tiên. Ngồi bên tôi là Thông chiến sỹ bộ đàm. Từ máy bộ đàm này tôi có thể liên lạc nắm tình hình và chỉ huy tiểu đoàn trong quá trình đơn vị hành quân.. Ân đại đội trưởng đại đội 4 ngồi trên thùng xe cùng khẩu đội để theo dõi bao quát đội hình.

Về khuya đường vắng dần, không còn tiếng reo hò của các em nhỏ ven đường, cũng không còn tiếng hát của các chiến sỹ, chỉ còn tiếng xe xích lăn đều đều sàn sạt trên mặt đường như một điệu nhạc ru các chiến sỹ vào giấc ngủ hồn nhiên của lính.

Lính, người thì ngủ ngồi, lắc lư theo xe, người thì úp mặt vào bao gạo ngủ như chết, người thì gối đầu vào lòng nhau ngủ. Chỉ người chỉ huy, chiến sỹ lái xe, chiến sỹ cảnh giới và chiến sỹ bộ đàm là vẫn thức.

Tôi thò đầu ra ngoài cửa xe. Gió đêm mát rượi quyện hương đồng, hương rừng lùa vào chân tóc. Nhắm mắt lại tôi cũng có thể cảm nhận được xe đang lượn quanh khu đồi thông hay băng qua rừng bạch đàn thơm mùi dầu hoặc đi giữa cánh đồng chín rộ thơm mùi nếp mới.

Thỉnh thoảng lại gặp mấy chú cầy, mấy chú thỏ rừng mắt thô lố đỏ như sao bắt đèn lao vào xe buộc Khoa phải đánh cần lái tránh.

Tôi rút bao Điện Biên trong cốp, châm cho Khoa lái xe một điếu. Chiến sỹ lái xe trong hành quân cơ giới là người nắm vận mệnh khẩu đội trong bàn tay cần lái. Nhất là trong hành quân đêm. Người chỉ huy pháo binh cơ giới quan tâm đến lái xe là chuyện bình thường và cũng là trách nhiệm.

Ngồi trên xe do Khoa lái, bất kể loại xe nào đều thấy yên tâm. Anh to cao, đôi tay điều khiển cần lái chắc nịch. Đôi mắt tinh nhanh và đượm vẻ tinh nghịch ngời lên trên khuôn mặt sạm nắng gió.

Đêm đã khuya. Giờ này là giờ không an toàn của lái. Tôi hiểu rất rõ điều đó. Bởi cũng vào giờ này lịch sử trung đoàn đã xảy ra hai vụ tai nạn. Một vụ lái xe lái cả pháo xuống tắm biển, một vụ tông vào thành cầu. Chẳng bao giờ tôi nhắc đến những chuyện mất an toàn trong lúc lái xe đang lái trên đường. Đó là điều cấm kỵ, nhưng tiếu lâm thì dù sao cũng làm cho anh em tỉnh táo.

– Này… uống đi!…

Tôi đưa một bát trà Thái đặc sánh, vừa rót ở chiếc bi đông để sau lưng cho Khoa. Khoa uống một hơi.

– Hút đi!…

Sau khi đặt vào miệng Khoa điếu thuốc tôi cũng châm một điếu hít một hơi dài:

– Này… Có điều mình không hiểu tại sao mỗi lần anh em gọi cậu là Bảy Búa mọi người lại cười rũ ra với nhau.

– Tiểu đoàn phó nghe bọn nó có mà đổ thóc giống ra ăn.

Tôi gặng hỏi

– Nhưng là chuyện gì chứ?

Khoa cười

– À… Chẳng là mấy đứa ở khẩu đội truy em tại sao mới lấy vợ được có tám tháng rưỡi mà đã đẻ ra công chúa nặng tối đa tới ba cân rưỡi…

Tôi cắt lời:

– Tạm ứng hả?

– Tiểu đoàn phó đừng có mà nói thế… Chẳng qua em nói gióc với bọn nó là đêm tân hôn…

– Đêm tân hôn làm sao?…

– Đêm tân hôn em tung ra những bảy búa… Thế là từ đó bọn nó…

Kiên ngắt lời:

– Chẳng đúng quá rồi còn gì… Năm ngoái cô Hẽm đầu lòng, chưa đầy năm lại cô Thẽm thứ hai…

– Chúng nó cứ làm em như búa kim hoả của pháo không bằng…

– Nhưng tớ hỏi thật cái lần hành quân diễn tập ghé qua nhà có chưa đầy một tiếng mà… Hay là của ông bạn hàng xóm tốt bụng đấy.

– Em thách đấy… Chẳng gì cũng là pháo binh… mà pháo binh cứ tới trận địa là em nạp đạn, bất kể ngày đêm, khi mục tiêu xuất hiện đúng tầm bắn là chỉ có việc cấp tập… Gì mà chẳng bách phát bách trúng.

Khoa là lính lái xe mà khẩu khí cứ y như pháo thủ chỉ có điều chưa chuẩn xác nên toàn bắn liều âm.

Từ chuyện Bảy Búa đến chuyện sinh đứa thứ hai, vẫn thị mẹt, vợ khóc như cha chết. Đẻ xong vợ sợ không dám bế con về nhà bố mẹ chồng. Giá như lần này, trước khi đi B được ghé qua chỉnh hướng bắn, mấy chẳng được thằng cún…

Đêm 10/1/69

Đêm nay thật bất ngờ, vào lúc tôi mắt nhắm mắt mở lơ mơ thì chính Khoa đã phản công tôi cái chuyện đêm qua.

– Này, tiểu đoàn phó có biết chiến sỹ đang xì xào chuyện gì không?

– Chuyện gì?

– À, chuyện cô gái con bà chủ nhà không hiểu sao lại cảm tình đặc biệt với tiểu đoàn phó. Có bát canh cua cũng đem lên buồng chỉ huy. Khi nghe tin tiểu đoàn phó đi chiến đấu chả khóc sưng cả mắt.

– Bậy nào…

Biết là Khoa trêu nhưng quả cô ấy có như thế thật… Mấy lần tôi bắt gặp đôi mắt biết nói của cô nói cái điều ấy, nhưng tôi phải lờ coi như không hiểu.

Càng chuyện càng rôm, chẳng còn phân biệt đâu là thủ trưởng đâu là lính, chuyện quên cả đường dài, quên cả thời gian, xe đã tới vị trí dừng chân thứ nhất. Tôi nhảy xuống xe. Một chiến sỹ tiền trạm dẫn xe về vị trí giấu. Một chiến sỹ dẫn tôi cùng Chiến liên lạc và Thông chiến sỹ bộ đàm về vị trí dành cho chỉ huy.

Tôi soi đèn xem đồng hồ. Kim chỉ ba giờ sáng. Đâu đó gà gáy rộ. Một làn gió biển mát lạnh ùa tới. Tôi thấy khoan khoái lạ thường.

11/1/69

Giờ thì mọi nỗi lo, lo đến thắt ruột đã qua. Sau một đêm hành quân, toàn tiểu đoàn đã tới điểm dừng chân an toàn, đủ quân số, đúng thời hạn. Kết quả đó làm cho mỗi chỉ huy cũng như chiến sỹ thấy tự tin hơn. Mọi người náo nức, cứ như đơn vị đã thực sự đánh thắng trận đầu.

Chính vì vậy mà tôi chẳng có lúc nào ngơi để nghĩ tới mẹ con cái Hồng. Cho tới bây giờ, sau một giấc ngủ ngon lành tỉnh dậy tôi nhận ra khoảng cách giữa tôi và mẹ con Hồng, Hùng, Hà đã dài ra gần hai trăm kilômét.

Tôi tranh thủ biên thư cho Duân báo vắn tắt về nhiệm vụ và nói xa xôi để Duân ngầm hiểu tôi đang ở đâu. Kèm theo thư, tôi gửi về gói quần áo rét trong đó có chiếc áo len tự tay Duân đan cho tôi hết hai bộ kim tre và hai mùa rét. Tôi không quên nhắn Duân tháo ra để đan cho hai con, năm nay nha khí tượng dự báo có thể rét đậm.

Ngồi viết thư một giọt nước mắt như từ đâu rơi xuống trang giấy. Tôi lau vội. Hình ảnh của Hồng và nhất là Hùng và bé Hà hiện lên trong tôi. Có lẽ vào giờ này nó vẫn còn đang mong tôi về. Những năm tháng đơn vị đóng quân gần thủ đô, tôi có may mắn một hai tuần lại đạp xe về thăm gia đình một lần. Cha con bện hơi, tránh sao khỏi nhớ thương day dứt.

Sau khi trao gói bưu phẩm cho chiến sỹ liên lạc ra bưu điện gửi về nhà, tôi sang nhà nghỉ của tham mưu trưởng, vốn là nhà ngang của một ngôi chùa, cũng là nơi hội họp của cán bộ ở trạm dừng chân.

Trước khi vào họp tôi cùng các cán bộ trong tiểu đoàn vào thắp nhang lễ phật. Sư Cụ thỉnh chuông, nghe tiếng chuông, nghe giọng trầm trầm của Sư Cụ gõ mõ tụng kinh “Nam mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn Bạch y Quan thế âm Bồ Tát…”, ngửi mùi nhang, mà lòng thanh thản, mà chí thêm vững vàng. Nhìn vị Hộ Pháp cao lớn mặc áo giáp, đội mũ trụ, tay cầm thanh long đao, mặt sát khí đằng đằng trừng ác. Nhìn vị phật khuyến thiện có đôi tai to, bộ mặt hiền từ, nhìn tượng phật bà Quan Âm tọa trên toà sen…Các vị Phật, vị đứng, vị ngồi, mỗi vị một vẻ nhưng đều ngời lên trên gương mặt một khí phách hiên ngang, một tâm hồn nhân ái.

Những đôi mắt Phật đang nhìn tôi, nhìn đám lính trẻ như muốn nói điều gì. Hẳn là như vậy. Một bức tượng ngã giúi xuống chân tường, một bức tượng cụt chân, mảnh bom Mỹ còn găm vào da thịt. Chỉ là tượng mà vẫn không thoát khỏi sự tàn phá độc ác của chiến tranh. Tượng trừng ác mà không trị được ác.

Tôi cầu khấn thầm trong tâm: xin đức Phật Tổ che chở phù hộ độ trì cho ông bà nội và mẹ con Hồng, Hùng, Hà ở thị xã Hà Đông tránh được bom đạn máy bay Mỹ, phù hộ độ trì cho tiểu đoàn tôi khó khăn nào cũng vượt qua, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, kẻ thù nào cũng đánh thắng, trước mắt hành quân tới đích an toàn thắng lợi.

12/1/69

Sau khi quán triệt nhiệm vụ và nhấn những điểm cần đặc biệt chú ý trong đêm hành quân tới, cho các cán bộ từ khẩu đội trưởng trở lên, tôi cùng trợ lý xe Diện đi kiểm tra tình trạng kỹ thuật xe, nhiên liệu và hậu cần.

Những khâu kỹ thuật quan trọng như tay phanh, ốc tang bánh xe kơra, trục mắt xích xe xích được kiểm tra xiết chặt. Mọi chi tiết xử lý đều được ghi lại trong nhật ký hành quân và có ký nhận của người chịu trách nhiệm.

Qua bộ phận nuôi quân tiểu đoàn, tôi rất cảm động khi gặp các mẹ các chị trong xã đem cho đơn vị một gánh rau xanh, cà chua và bốn con gà. Một số các em nhỏ đang xúm quanh khu vực nấu ăn. Phần lớn các em mặc quần áo vá, có em vá chằng, vá đụp, có em cởi truồng. Miền Trung như chiếc đòn gánh gánh cả hai đầu hai vựa lúa mà nghèo quá.

Các khẩu đội đang nhận phần cơm nắm mang theo xe hành quân. Tôi lệnh cho nuôi quân nắm cho mỗi em nhỏ một nắm chim trong có thịt. Các em reo lên sung sướng. Một em gái choai choai bồng em nhỏ cứ ăn một miếng lại nhai mớm cho em một miếng. Tôi nhìn chúng nó mà lòng vợi đi nỗi nhớ con.

Một tình huống đặc biệt xảy ra trong đêm thứ ba trước lúc đội hình hành quân của tiểu đoàn chuẩn bị xuất phát. Đó là khi kiểm tra quân số khẩu đội 1, thấy thừa một chiến sỹ. Đoàn xe phải dừng lại. Sau một hồi kiểm tra, anh thanh niên tên Dũng mặc áo lính bị phát hiện. Anh năn nỉ xin đi theo đơn vị, nhất định không chịu xuống xe.

Cùng lúc đó tôi thấy một bà mẹ và mấy cô gái có lẽ là người thân của Dũng tới gần, mắt họ cũng đang nhoà lệ. Bà mẹ năn nỉ xin tôi cho cháu bà theo đơn vị. Bạn bè Dũng đi cả, làm sao Dũng ở nhà được. Đồng thời đồng chí xã đội cũng cho tôi biết cậu ấy là con liệt sỹ, chỉ vì đợt khám tuyển mới rồi bị ốm nên chưa đi được.

Không hiểu sao khi nghe đồng chí xã đội nói vậy tôi thấy nghẹn trong lòng. Thì ra bộ quân phục còn mới mà Dũng mặc trên mình là của người cha đã hy sinh. Tôi đành gọi điện hội ý lại với cấp trên xin ý kiến giải quyết, còn thâm tâm tôi, tôi đã muốn ôm cậu thanh niên đó vào lòng.

Đêm 13/1/69

Sau ba đêm hành quân suôn sẻ không gặp sự cố nào lớn, lại được biết đây biết đó, được tận mắt chứng kiến cảnh cả nước rầm rộ lên đường chi viện cho miền Nam, mỗi cán bộ chiến sỹ trong tiểu đoàn càng thấy tự hào và tin ở thắng lợi cuối cùng của cách mạng.

Đi chiến đấu như trẩy hội, điều đó không chỉ có trong thơ mà có thực ở cuộc đời, ít ra là trong những cung đường đầu tiên. Nhưng đêm nay, trên chặng đường này, cửa tử của chiến tranh đã mở cánh. Đó là khi đội hình hành quân cơ giới của tiểu đoàn phải vượt phà sông Gianh.

Khi còn cách phà Gianh mười kilômét đội hình hành quân của tiểu đoàn đã phải giãn rộng. Trước đó, gián cách xe cách xe từ một đến hai trăm mét, giờ, xe cách xe từ ba đến năm trăm mét.

Từ chiều hôm trước tôi đã lệnh cho tiểu đoàn tăng cường nguỵ trang, tăng cường nùn rơm trên dàn mướp chống bom bi. Tận dụng bao gạo xếp lên nắp máy để bảo vệ máy. Tận dụng những bó thiết bị càng pháo xếp chồng lên các phuy xăng dầu để bảo vệ xăng dầu. Quá trình hành quân buộc mọi người phải đội mũ sắt. Xe nào cũng phải cử người cảnh giới, phải chuẩn bị súng đạn sẵn sàng đánh trả máy bay địch ở tầm thấp. Đặc biệt là khi xe qua phà.

Chặng đường hành quân đêm nay sẽ là thử thách khắc nghiệt đầu tiên của tiểu đoàn. Tôi đã được tham mưu trưởng trung đoàn trực chiến ở bến phà cho biết quy luật đánh phá của địch trong tháng qua và những tổn thất của ta. Mới đêm trước một khẩu pháo, tôi không tiện hỏi xem là của đơn vị nào, đã lao từ  phà xuống sông.

Buổi chiều tôi đã có ý cho đơn vị hành quân sớm để qua phà sớm, nhưng đâu chỉ có đơn vị tôi. Một đơn vị xe tăng đã tới trước. Có lẽ là đơn vị xe tăng đi tàu đêm trước đã vượt lên đội hình của tiểu đoàn khi qua cầu Hàm Rồng.

Sông Gianh đen sậm màu chì. Ánh đèn phòng thủ của phà leo lét bập bềnh trên sông. Người ta cảm nhận thấy sông không còn hoàn toàn do mắt mà còn do cả tai. Bến phà lộng gió, sóng vỗ ì oạp, tiếng leng keng báo hiệu của phà, tiếng quát nạt giọng miền trung nặng trịch của người gác barie bến phà. Thỉnh thoảng tiếng kẻng báo động máy bay lại vang lên.

Sau một giờ đoàn xe tăng mới qua sông hết. Thời gian ở đây như chùn lại. Càng mong bao nhiêu, thời gian càng chùn lại bấy nhiêu, cuối cùng cái tích tắc, cái khoảnh khắc thử thách cho cả một đời lính, một đời người đã tới. Tôi lệnh cho đội hình cặp bến, mặc dầu theo quy luật vào thời điểm này máy bay địch thường sẽ trở lại sau lần báo động trước.

Chiếc xe của khẩu đội 1, khẩu đội đầu đàn do Khoa lái đã tới, đã xuống phà ngon lành và rời khỏi bến một cách êm ả. Tôi dõi theo bóng đen của chiếc phà trên lưng nó cõng cả một khẩu đội hoàn chỉnh gồm cả xe, cả pháo, cả đạn có chiều dài gần hai chục mét, trên phủ dàn nguỵ trang lừng lững như một toà nhà chìm dần vào sương đêm phủ trên mặt sông.

Chiếc xe của khẩu đội hai đã tới. Xe cặp phà khó khăn nhưng cũng an toàn, tuy xe pháo xuống phà có lệch một chút. Phà vừa rời khỏi bến kẻng báo động của trạm phòng không vang lên. Máy bay ập tới khi tôi vừa lệnh cho các khẩu đội sẵn sàng bắn máy bay.

Tôi nom rõ hai chấm sáng từ một chòm sao phía cửa biển lao tới và lập tức lưới lửa phòng không của ta đã giăng ra. Đạn cao xạ nổ lụp bụp trên trời. Những đường đạn cao xạ đỏ lừ đan chéo trên bàu trời đen kịt.  Tôi còn nom rõ cả những đường đạn vạch đường của đại liên mười hai ly bảy ở mấy ụ phòng không trên đê và đạn tiết sáng AK do các chiến sỹ pháo thủ của tiểu đoàn bắn trả.

Phà của khẩu đội một đã cặp bến, nhưng một trái bom nổ nom từ bờ bên này như đã trùm lên xe pháo. Tôi hét to “Khẩu đội 1!”, “Khoa!”… Nhưng rồi trong ánh sáng quầng lửa màu da cam của một trái bom khác rơi gần đó tôi đã nom thấy xe của Khoa vẫn vượt lên. Tôi xúc động nghẹn trong lòng. Khoa của tôi, các chiến sỹ của tôi dũng cảm và đáng yêu quá.

Càng xúc động hơn khi tôi được tận mắt chứng kiến một máy bay địch bốc cháy rơi xuống phía cửa sông. Mọi người đứng cả lên để hoan hô, để reo hò cứ như là xem pháo hoa, chẳng còn biết gì là sợ sệt. Cũng may bọn địch bị bắn rơi một chiếc nên hoảng hồn đã không dám quay trở lại.

Tranh thủ lúc địch còn đang hoang mang, tôi lệnh cho tiểu đoàn thu hẹp gián cách. Tôi trực tiếp trụ lại ở bên bờ Bắc để chỉ huy cho tới chiếc xe thứ sáu mới theo xe pháo qua sông.

Quãng thời gian trụ lại ở hai bên bờ để chờ lần lượt từng cặp xe pháo nặng nề chậm chạp xuống phà lên phà là quãng thời gian chùn lại trước những thử thách quá lớn đè nặng lên vai người chỉ huy pháo binh cơ giới. Tôi rít hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác không hiểu vì sương đêm lạnh ướt cả áo hay vì sự căng thẳng khi xe pháo cặp phà và tiếng chuông lanh canh của phà trưởng báo hiệu phà rời bến.

Được đứng bên thành phà ngắm cảnh xe pháo người nối nhau xuống phà mặc cho trên trời vẫn lập loè ánh đèn máy bay Mỹ, vẫn đan nhau những đường đạn phòng không đỏ lừ và lụp bụp tiếng cao xạ nổ trên đầu. Tôi thấy tự hào chẳng những đã thực sự là một chiến binh mà còn là một chấm nhỏ tạo nên bức tranh hoành tráng của một bến phà trên cung đường ra mặt trận, có cái gì thân quen như cảnh chiến tranh mà tôi đã gặp trong “Sông Đông êm đềm”.

Cả tiểu đoàn vượt qua cửa tử an toàn vào lúc hai giờ sáng. Sau khi qua phà đội hình hành quân tự nhiên dồn lại mặc dầu chưa có lệnh chỉ huy. Trên các thùng xe, sau những phút căng thẳng mệt mỏi phần lớn anh em pháo thủ đã ngủ. Cho tới lúc những tiếng nổ chát chúa của bom bi ngay bên tai, mọi người mới choàng tỉnh dậy và biết là khẩu đội mình đã bị bom.

Có một khẩu đội nùn rơm trên dàn mướp bị cháy anh em pháo thủ cởi cả áo thấm nước để dập. Một ngôi nhà gần đường cũng bị cháy, anh em mang thùng chậu lao tới cùng nhân dân chữa cháy. Nhiều tiếng gọi tìm nhau thảng thốt trên trục đường hành quân.

Một pháo thủ người Nam Hà bị liền mấy viên bi xuyên vào phần bụng. Tôi cho sơ cứu ngay và điều xe gát chở tới bệnh viện gần đó.

Rất may máy bay địch chỉ thả toạ độ rồi đi ngay và toàn tiểu đoàn chỉ có một đồng chí bị thương. Cậu Dũng tân binh mới toe cũng bị một viên bi sượt qua tai nhưng chỉ bị chảy máu sơ sơ. May mà bom Mỹ nó chỉ xin tý tai… Chỉ cần lệch trái hai xăngtimét là vỡ gáo.

Tôi lệnh cho đơn vị chọn năm chiến sỹ đã học qua cách xử lý bom mìn cùng một y tá ở lại giúp dân giải quyết hậu quả, tiểu đoàn sẽ cho xe đón sau, còn lại tiếp tục hành quân. Phải tăng tốc độ, đội hình hành quân mới có thể vượt qua đoạn đường trống trải, mới có thể đến vị trí dừng chân vào lúc tang tảng sáng.

Những tưởng điều tồi tệ nhất đã qua nào ngờ lại xảy ra một sự cố đau lòng, không phải do không quân Mỹ mà do chính đơn vị mà người phải chịu trách nhiệm trước hết là tôi và chính trị viên. Đó là sự việc hai chiến sỹ đào ngũ sau khi đội hình hành quân bị máy bay oanh tạc.

Vậy là máu của các chiến sỹ tiểu đoàn đã bắt đầu đổ và điều tồi tệ nhất cũng đã xảy ra. Chiến tranh đâu phải trò đùa.

Đêm 14/1/69

Qua phà sông Gianh, trục đường số một, từ đây vào phía nam cầu phà yếu, lại hay bị máy bay địch đánh phá, tiểu đoàn phải tạt sang phía tây hành quân tránh cầu, vượt ngầm trên trục đường số 15.

Tại trạm dừng chân nghỉ dọc đường, một số anh em nằm nghỉ dưới lòng xe xích, coi xe xích như mái hầm tránh bom đạn. Khi có lệnh hành quân, Kha pháo thủ quá mệt ngủ thiếp đi, xe nổ máy không biết, cán bộ khẩu đội không kiểm tra kỹ, Kha đã bị xe đè phải và chết thật là thương tâm.

Cán bộ từ khẩu đội trở lên đã phải nghiêm khắc kiểm điểm trách nhiệm, nhưng kiểm điểm cũng chẳng lấy lại được, điều quan trọng phải coi đây là bài học xương máu để không bao giờ xảy ra trường hợp tương tự. Hành quân cơ giới, kỷ luật hành quân phải duy trì thật nghiêm và công tác kiểm tra phải hết sức chặt chẽ.

Vậy là một chiến sỹ nữa của tiểu đoàn đã ngã xuống ngay khi tiểu đoàn đang còn trên dường hành quân vào mặt trận.

Đêm hành quân nặng nề. Tiếng xích xe lăn trên đường hay lăn trong tim tôi.

Đêm 15/1/69

Đêm hôm trước tiểu đoàn đã hành quân vượt Đèo Ngang vào tới nông trường Lệ Ninh. Ba giờ sáng hôm nay từ nông trường Lệ Ninh tiểu đoàn hành quân tới nông trường Quyết Thắng. Đây là chặng đường hành quân cuối cùng của đơn vị.

Càng gần tới mặt trận, đường xá càng khó khăn. Khe lạch cắt đường số một ra từng đoạn ngắn. Mặc dầu các cầu đã được lót bằng gỗ tấm loại tốt nhưng do lưu lượng xe vào mặt trận lớn, trọng tải cũng lớn nên chỉ được ít ngày ván lại bị dập nát. Tiểu đoàn phải sử dụng các tấm sắt lót đường băng máy bay đem từ sân bay Hoà Lạc, Sơn Tây vào để lót cho xe qua. Đi được trên mười kilômét một xe của đại đội bốn bị rệ, đơn vị phải xử lý hai tiếng đồng hồ xe pháo mới lên được.

Trời đã tang tảng sáng. Tất cả các xe pháo phải nguỵ trang bổ xung và đơn vị trong tư thế sẵn sàng đánh trả máy bay địch bằng sũng bộ binh. Hành quân ở đây có cảm giác như đồn địch ở phía bờ nam có thể quan sát thấy. Tiếng súng nghe ngày một gần. Đến khe Cẩm Ly, cầu yếu, xe phải đi đường ngầm, thoát được ba xe, đến xe thứ tư bị patinê, phải đấu hai xe xích để kéo mới qua được.

Thác Cốc nước ngập đến ống xả. Qua Thác Cốc đội hình hành quân tiến đến khu đồi “ Hận An Mã “. Từ đó xe liên tiếp phải vượt qua những đường ngầm nguy hiểm, xung quanh toàn hố bom. Ven đường có nhiều tấm biển vẽ hình sọ dừa và trái bom. Dưới phụ đề mấy chữ nguệch ngoạc mầu đen “Chú ý bom rải rác trong rừng “

Một đoàn xe gát ngược ra Bắc. Trên xe các chiến sỹ đều đội mũ tai bèo, nước da xanh mai mái. Thấy đoàn xe pháo của tiểu đoàn đồ sộ, mấy xe gát đậu nép vào lề để nhường đường. Các chiến sỹ giải phóng đứng cả lên vẫy chào, xúc động, tự hào. Còn các chiến sỹ của tiểu đoàn kể cả tôi đã trao tay thậm chí ném sang những bó thư gửi về cho gia đình.

Từ đồi An Mã vượt thêm mười kilômét tiểu đoàn đến nông trường Quyết Thắng. Một tấm biển cắm ở ven đường “Đồng chí Quý Hải dừng lại đây “. Mùi, chiến sỹ trong đội tiền trạm đã ngóng chờ đơn vị từ sớm. Tôi ôm Mùi xúc động.. Tôi không thể nào tưởng tượng được tôi có thể thay tiểu đoàn trưởng Thạnh đi trước, chỉ huy cả một tiểu đoàn pháo lớn với những chiếc xe đại xa vượt hàng ngàn kilômét an toàn trong điều kiện địch đánh phá ác liệt, vào tới chiến trường.

Rất may tiểu đoàn đã biết rút kinh nghiệm kịp thời và bổ sung chỉ lệnh hành quân qua phà, sau mấy vụ vượt sông mất an toàn của khối hành quân trung đoàn bộ và tiểu đoàn 3 đi trước.

Vụ qua cầu phao Nho Quan, tham mưu trưởng Bùi Cúc đã quá tin lời đảm bảo của người phụ trách cầu quyết định cho xe qua, nhưng cầu phao đã không chịu đựng nổi trọng tải xe cờ-ra lớn như vậy. Xe đã bị lật, rất may chỉ là cho xe đi thử, không kéo pháo. Xe cẩu lên được, nhưng lương thực thực phẩm lợn gà trên xe bị mất tăm. Chiến sỹ không ai việc gì nhưng một người đàn bà đi liều  trên cầu phao đã bị rơi xuống sông không kịp cứu vớt.

Một vụ tai nạn khác xảy ra ở phà Bến Thủy. Xe pháo qua sông, khi rời phà lên dốc, xe pháo quá nặng, dây xích phà bị đứt, xe pháo tụt xuống sông. Khi qua phà Ròn lại một vụ mất an toàn nữa. Tuy nhiên cả ba vụ đều đã được đội xe của trung đoàn cẩu đưa xe pháo lên, sửa chữa kịp thời và tiếp tục hành quân.

“Nho Quan, Bến Thủy, Phà Ròn

Ba xe cờ rát lăn tòm xuống sông…”

Câu ca dao đó không rõ ai là tác giả, nhưng ở miệng cậu Tân  Hà Đông khẩu đội trưởng pháo phát ra, đã râm ran truyền miệng nhau trong lính pháo cơ giới  trên đường hành quân.

Từ điểm đầu nông trường Quyết Thắng tới nơi trú quân còn bảy kilômét. Đường vào đội 3 nông trường chi chít những vệt bánh xe. Ngã tư, ngã sáu như mạng nhện.

Nông trường Quyết Thắng, nông trường anh hùng, niềm tự hào của cả nước. Trong điều kiện chiến tranh ác liệt, chỉ tính trong hai năm 1965-1966 nông trường đã chịu đựng trên bốn ngàn trận oanh tạc với hơn hai trăm ngàn trái bom. Tính trung bình mỗi công nhân chịu 152 trái. Một hécta gần hai trăm trái chưa kể mười bảy ngàn trái đại bác, mười chín ngàn trái bom bi và chất độc hoá học. Vậy mà anh chị em công nhân vẫn bám đất, bám cây phục vụ tiền tuyến, “cao su còn, còn sản xuất”. Nông trường xây dựng hàng ngàn mét vuông hầm chiến đấu, hầm sản xuất các loại, kể cả địa đạo, để vừa sản xuất, vừa chiến đấu. Năm 1968 chiến sỹ phòng không thuộc đại đội tự vệ của nông trường còn bắn rơi tại chỗ hai máy bay.

Qua trận địa cao xạ, các chiến sỹ cao xạ quay nòng pháo chào các chiến sỹ pháo binh, người bạn chiến đấu mới mà từ nay họ có trách nhiệm bảo vệ.

Trên đường hành quân vào tuyến lửa

Pháo xe ta ghé lại nông trường

Cao-su vườn tiếp vườn đợi đó

Sao không nghỉ, nghỉ giữa rừng hoang

Mảnh vườn này ba trăm ba mươi gốc

Ba mươi cây bật gốc

Ngót trăm thân gãy ngang

Còn bao nhiêu cành lá xém vàng

Mủ cạn hứng bảy ngày không đầy mảnh bát

Nắng Ba Zốc, Cồn Tiên pháo kích

Mưa và đêm tọa độ B 52

Em gái nông trường giữa buổi sớm mai

Nằm gục đó tay còn nâng bát mủ

Bát mủ trắng, bát máu đỏ

Máu của em!

16/1/69

Ban chỉ huy tiểu đoàn ở trong một căn hầm lớn hai đầu có hai nhánh thông sang hầm chữ A. Căn hầm vốn là phòng mổ nên rất rộng. Tuy nhiên bệnh viện rời đi đã lâu nên mái tranh đã dột nát, tường ẩm ướt rêu phong.

Sau một tuần hành quân không nghỉ, hôm nay anh em được ngủ một bữa cho đã, suốt từ ba giờ chiều cho đến sáng hôm sau, bỏ qua cơm chiều. Cả ngày một bữa vẫn ngủ.

Tám giờ sáng hôm sau chính uỷ đã tới thăm. Nắng nhạt, ánh sáng từ những lùm cây cao xuyên những rẻ quạt nhờ nhờ xuống đầu hồi của căn hầm. Chim rừng hót líu lo gọi nắng. Dưới sự chỉ  đạo của chính trị viên, Chiến liên lạc tất bật cùng Thông bộ đàm cắt tiết, vặt lông hai chú gà đem từ Hà Nội vào để khao chính uỷ. Gọi là khao cho oai và cũng là thể hiện lòng kính trọng chứ thực ra khách ba chúa nhà bảy.

Ngay buổi chiều chính uỷ đã quán triệt tình hình nhiệm vụ của toàn trung đoàn nói chung và của tiểu đoàn 2 nói riêng. Nhiệm vụ của tiểu đoàn trước mắt là bảo vệ vùng đất Vĩnh Linh, đánh trả đũa khi không quân Mỹ oanh tạc ở miền bắc và đánh trả chiến hạm địch bảo vệ vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc.

Đại đội bốn được lệnh chuẩn bị gấp để triển khai chiếm lĩnh trận địa ven biển ở khu đông, sẵn sàng đánh chiến hạm địch.

Vậy là nhiệm vụ chiến đấu của đơn vị đã được khẳng định. Quan trọng hơn là mọi người đều có thể ngầm hiểu từ “trước mắt” mà chính ủy nói có nghĩa là đường hành quân của trung đoàn không chỉ dừng lại ở vĩ tuyến thứ 17.

Nửa ngày về chiều trôi qua nhanh. Đêm đầu tiên tại mặt trận. Mới chạng vạng tối pháo địch từ chiến hạm ngoài khơi đã giót vào những khu chúng nghi ngờ có trận địa pháo của ta. Mưa rậm rịch. Những giọt mưa từ chỗ mái dột rơi lộp bộp trên tấm tăng. Gà gáy canh một rồi canh hai. Tôi mong sao cho trời mau sáng để có thể thanh thản đứng tự do nhìn cho đã mảnh đất bên kia bờ Hiền Lương, nơi một ngày không xa chúng tôi sẽ chiến đấu như đoàn pháo binh 45, 204 đã từng chiến đấu trong chiến dịch Khe Sanh – Đường 9 – Nam Lào.

Đã rất khuya mà tiếng bom đạn vẫn ầm ì đâu đó, rồi nghe xa xa cả tiếng đại liên. Chắc hẳn là từ phía bên bờ nam. Lòng tôi như thắt lại. Không tài nào ngủ được, tôi dậy lấy giấy bút nhưng cũng chẳng hiểu lấy ra để làm gì. Đêm Vĩnh Linh chân trời đâu đó bùng lên ánh chớp lửa màu da cam và leo lét ánh đèn dù, pháo sáng.

22-1-1969

Sau một ngày nghỉ ngơi, một ngày tổng kết cuộc hành quân, một ngày đi trinh sát thực địa ở cự ly gần: khu vực ngã năm, ngã tư Cung Độ, Đội 7, Đội 4 rồi Bãi Muối, Bảy Mả… hôm nay tôi cùng trung đoàn trưởng Cao Sơn đi trinh sát ở bán kính rộng hơn dưới sự hướng dẫn của trung tá Chí, trung đoàn phó trung đoàn pháo 204 có thâm niên chiến đấu tại Vĩnh Linh. Chiếc xe gát 63 đưa đoàn đi trọn một vòng khá xa.

Trung đoàn trưởng gọi đùa trung tá Chí là chủ tịch nông trường và lúc đầu tôi cũng nghĩ như vậy. Có lẽ vì trung đoàn phó Chí béo đến bạnh cả đôi má. Hàm răng ám khói thuốc lá đen sậm. Giọng nói ồm ồm, cười khề khề. Chiếc áo vệ sinh cổ thiếu xà phòng. Chiếc quần vải thô ống xắn cao. Nhưng thực ra anh lại là một trung đoàn phó trăm phần trăm, một trung đoàn phó của một trung đoàn pháo binh đã từng trụ lại giáng những đòn sấm sét xuống đầu Mỹ Nguỵ tại chiến trường Quảng Trị.

Từ đội 3 xe đưa đoàn trinh sát tới ngã tư Bến Lội, Bãi Hà, ngã ba 54. Ngã ba 54 là ngã ba giữa trục đường 15 và đường 42, còn gọi là ngã ba Ông Tèo.  Nơi có kho Ông Tèo chứa đầy hàng tết bị máy bay L19 phát hiện bắn cháy.

Xe leo trên những đoạn dốc hẹp của con đường 42 tới ngã ba Phuy Xăng, tới trận địa Bãi Mít, trận địa 20 tháng 6, nơi đây các chiến sỹ pháo binh Bến Hải, trung đoàn pháo 164 đã từng giáng trả những đòn hỏa lực chí tử xuống các căn cứ của bọn Mỹ Nguỵ ở bên kia Bến Hải.

Buổi chiều xe đi dọc theo giới tuyến tạm thời từ tây sang đông, từ Cổ Kiềng, Tân Định, Sa Lung, Thuỷ Ba Hạ, Vĩnh Long, Hồ Xá, Rú Lĩnh, đến Vĩnh Thành… dưới con mắt cú vọ của tháp Cồn Tiên, Dốc Miếu. Hai chiếc L19, OV10 bay tầm cao dọc sông Hiền Lương nghiêng ngó.

Từ phía bên kia đại bác địch và máy bay A7 đang bắn đại liên cực nhanh, rốc két và ném bom xuống một triền đồi gần khu hàng rào điện tử  Mác-na-ma-ra.

Dọc đường xe đi là những cánh rừng trơ trụi. Những thân cây bị mảnh bom đạn phạt ngang, bẻ gãy đổ nghiêng in trên nền trời. Những vạt rừng bị bom na pan đốt vàng rụi. Những căn nhà tranh bị cháy trơ lại mấy chiếc cột đen thui. Những căn hầm sập. Những sườn đồi lỗ chỗ hố bom. Những khúc đường đứt quãng. Hầu như không một thước đất nào là không bị tàn phá.

Có mảnh bom, mảnh đạn còn găm vào vách nhà, bảng tin, cột điện. Những trái bom tấn, những quả đạn pháo cực lớn 203mm, 406mm từ chiến hạm bắn vào bị thối chưa nổ còn nằm vạ vật vệ đường. Những quả bom bi vàng như trái xoài còn treo lơ lửng trên cây. Những nấm mồ còn mới nằm trên trảng cát không một vòng hoa.

Hố bom chồng lên hố bom. Mộ chồng lên mộ. Vậy mà Vĩnh Linh vẫn còn đó, vẫn đứng đó. Cờ đỏ sao vàng vẫn tung bay trên đỉnh cột cờ của Tổ quốc ở đầu cầu Hiền Lương. Ruộng vẫn được trâu đôi cày bừa ngoài đồng. Mạ vẫn được nông dân gieo trên những thửa ruộng đất pha gang. Cao su vẫn được công nhân nông trường chắt chiu từng bát mủ. Tiếng hát tiếng đàn vẫn vang lên trong những căn hầm, trong những đường giao thông hào, địa đạo. Các o Vĩnh Linh vẫn trong giọng hò mái đẩy. Bom đạn địch cày xới băm nát con đường huyết mạch, bà con, chị em dân quân Vĩnh Linh san lấp sửa chữa quyết không để mạch máu giao thông ngừng chảy.

Máu ta ta quý hơn vàng

Nhưng vì độc lập sẵn sàng hy sinh

25/3/69

Tôi và tiểu đoàn trưởng Thạnh lên sở chỉ huy trung đoàn nhận nhiệm vụ chiến đấu. Dọc đường tôi phán đoán có thể là một trận đấu pháo, kiểu như lần đấu pháo hai năm trước, giữa trung đoàn pháo 164 của ta ở bờ Bắc cùng pháo cối, pháo hỏa tiễn A12 luồn sâu và các trận địa pháo địch ở Dốc Miếu, Bái Sơn, Quán Ngang, Tân Lâm? Mình có cả tiểu đoàn, cả trung đoàn pháo trong tay mà chịu để pháo ngoài hạm đội 7 của Mỹ tự do kích vào, chưa trúng mình nhưng trúng dân, vút tầm không đánh được pháo hạm đội thì đánh căn cứ của chúng chứ chịu à.

Đúng là phải trừng trị chúng. Mệnh lệnh chiến đấu chế áp và tiêu diệt các căn cứ đó đã được trung đoàn trao cho các tiểu đoàn. Có điều phương thức đánh thì không phải như tôi nghĩ. Tình hình quân sự chính trị, chưa cho phép ta dùng pháo lớn trong biên chế đánh rầm rộ như đợt tháng 3 năm 1967, có thể gây mất ổn định hậu phương trực tiếp của cách mạng miền Nam. Toàn trung đoàn phải gấp rút tổ chức cho đơn vị học tập kỹ thuật sử dụng đạn hỏa tiễn A 12, vác vào gần căn cứ để bắn.

Nghe chỉ huy phổ biến, tôi và mấy anh bạn ồ lên “pháo dự bị chiến lược của Bộ Tổng xe xích kéo lừng lững, nòng dài rãnh xoắn, tầm bắn có thể tới hai ba mươi kilômét đường chim bay, không đánh, lại đi đánh bằng loại đạn không nòng, bệ đất, cuốc bộ, vác đạn lủi như đặc công vào cách căn cứ địch vài kilômét để bắn!?.”

Lối đánh này thực ra không phải là mới. Nó đã xuất hiện ở chiến trường Quảng Nam, Đà Nẵng, và ngay tại chiến trường Quảng Trị, trung đoàn 84 cũng đã đánh có kinh nghiệm. Thì ra pháo binh cơ giới cũng có thể “nắm thắt lưng địch mà đánh” như phương châm đánh gần hiệu xuất chiến đấu cao mà đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã có lần nói.

Toàn trung đoàn nhanh chóng tổ chức học tập kỹ thuât bắn đạn hỏa tiễn A12. Tiểu đoàn 3 có vinh dự được đánh những trận đầu, đợt đầu. Tiểu đoàn 2 một nửa ở bờ Bắc phòng ngự bờ biển sẵn sàng đánh trả pháo hạm Mỹ nếu chúng pháo kích vào đất liền, sẵn sàng đánh trả đũa các căn cứ Cồn Tiên, Dốc Miếu, Bái Sơn nếu chúng pháo kích ra bờ Bắc, một nửa tham gia đánh bằng đạn A12, tiếp sau tiểu đoàn 3.

Trung đoàn trưởng Cao Sơn, thời kỳ chiến dịch Điện Biên Phủ, là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn hỏa tiễn H6 (Pháo xe kéo Cachiusa sáu nòng) nay trực tiếp chỉ huy hỏa tiễn A12 vác vai, vốn là đạn hỏa tiễn phóng dàn BM13, BM14 của Liên Xô nhưng tháo rời từng nòng và bắn trên bệ đất.

20/7/69

Dự tổng kết chiến đấu bằn đạn hỏa tiễn A12 của tiểu đoàn 3. Tiểu đoàn đã hoàn thành tốt hai đợt chiến đấu: đợt một từ ngày 5 tháng 5 đến 16 tháng 5, đợt hai từ 3 tháng 7 đến 14 tháng 7.

Quán triệt tư tưởng tích cực tiến công, liên tục tiến công, tiểu đoàn 2 xây dựng quyết tâm đánh hiệp đồng với số đạn gấp đôi tiểu đoàn 3, với thời gian chuẩn bị ngắn, địa bàn hẹp, tốc độ các trận mau. Trận sau thắng hơn trận trước. Đánh thắng trong điều kiện quyết liệt, thương vong thấp nhất.

Tiểu đoàn chú ý xây dựng tinh thần đoàn kết hiệp đồng chia lửa, chịu lửa tạo điều kiện cho bạn dứt điểm hoàn thành nhiệm vụ, tránh cục bộ địa phương, tranh công đổ lỗi giữa các cụm, các phân đội. Tổ chức kỷ luật nghiêm. Chỉ huy chặt chẽ giữa pháo cơ giới phía sau và pháo mang vác phía trước.

Về kỹ thuật bắn đạn A12, ĐKB thời kỳ là giáo viên trường Sỹ quan Pháo binh tôi cũng đã có dịp nghe giới thiệu và đi tham quan bắn đạn thật ở trường bắn Hòa Lạc. Chính lần đó chúng tôi đã được gặp Bác Hồ, được đi theo Bác lên đài quan sát trên điểm cao Cốt Củ để theo dõi cuộc bắn. Xuất phát từ ý đồ muốn tháo dàn hỏa tiễn BM14 Ca-chiu-sa, vũ khí Liên Xô viện trợ ra từng nòng để tiện vác đi các chiến trường, đầu tiên là Quân khu 5, các kỹ sư của ta, anh Trần Đại Nghĩa, có sự giúp đỡ của Liên Xô đã cải tiến và hình thành cách đánh đạn ĐKB và đạn hỏa tiễn A12 có nòng và không nòng.

Thì ra từ đó Bác đã cùng các đồng chí Tư lệnh binh chủng Pháo binh theo đuổi ý tưởng cách đánh này. Cách đánh của một đội quân nghèo biết lấy yếu thắng mạnh. Nghĩ đến kết quả bắn pháo A12 của tiểu đoàn 3, nghĩ đến những trận chiến đấu sắp tới bằng đạn A12 của tiểu đoàn, của chính tôi, tôi lại nhớ Bác. Bác ơi, tiểu đoàn chúng con đang chiến đấu với tinh thần, với ý tưởng chiến đấu tuyệt vời của Bác.

1/8/69

Sau một thời gian huấn luyện gấp rút cách đánh bằng đạn hoả tiễn A12, một nửa quân số của tiểu đoàn đã sẵn sàng chiến đấu. Nhiệm vụ của tiểu đoàn là tập kích hoả lực vào căn cứ Bái Sơn, Cồn Tiên, Quán Ngang ở cự ly gần. Bộ phận đi trinh sát mục tiêu và tìm vị trí trận địa, vị trí đài quan sát đã trở về.

Tổ chức chiến đấu xong, phân đội lập tức lên đường. Vẻn vẹn có mười hai pháo thủ và hai chỉ huy nhưng có cả một tiểu đội thông tin, bộ đàm, hậu cần quân y, một tổ đo đạc và một trung đội dân công tải đạn đi theo phục vụ.. Khí thế chiến đấu ngời lên trên những gương mặt trẻ. Đây là trận chiến đấu đầu tiên của anh em, cũng là của chính tôi. Trên vành mũ của anh em tôi thấy có những khẩu hiệu, mà không phải tất cả là do chính trị viên đề ra. “Quyết tâm đánh thắng trận đầu”, “Miền Nam gọi miền Bắc đáp lời”, “Lập công dâng Bác”, “Trả thù cho đồng chí Ngọ pháo thủ tiểu đoàn 3”, “Chiến công này dành cho em gái hậu phương”.

Lời của Bác động viên trung đoàn pháo 164 hai năm trước trong đợt đánh trừng trị căn cứ Cồn Tiên, Dốc Miếu năm xưa lại như đang thúc giục chính chúng tôi: “Các chú đại diện cho lực lượng pháo binh miền Bắc xã hội chủ nghĩa đánh trả hành động leo thang phá hoại của pháo binh địch ở bờ nam. Vì vậy trận đầu các chú phải đánh thắng”.

Sớm hôm đó khi phân đội hành quân được một quãng thì Bình liên lạc tiểu đoàn chạy theo. Tưởng có gì quan trọng hoá ra là thư. Thư hậu phương gửi tới trong số đó có thư của tôi, của Thìn pháo thủ. Nhìn nét chữ thân quen của Duân với lời văn mộc mạc đằm thắm chưa có điều kiện đọc tôi đã thấy xốn xang trong lòng. Tôi giắt vội lá thư trong vành mũ rồi rảo bước theo đội hình.

Khi phân đội lên đường thì một nửa số đạn đã được ém sẵn gần khu trận địa. O Điệp giao liên dẫn phân đội theo trục đường mòn vào chiếm lĩnh trận địa.

Trục đường mòn vượt sông Hiền Lương phía thượng nguồn rồi xuyên rừng đi dọc theo con suối Tình Thương vượt qua hàng rào điện tử Mác-na-ma-ra xuôi xuống vùng giáp ranh.

O Điệp người nhỏ nhắn xinh xinh trong bộ bà ba đen. Đầu đội mũ tai bèo. Vai khoác tiểu liên AK, lưng đeo túi vải. Vừa dẫn đường cho các chiến sỹ pháo binh, o vừa giới thiệu những thắng cảnh bên đường. Tiếng nói miền trung dịu dàng ấm cúng hồn nhiên của o làm cho mọi người tin ở o, cả những điều o nói và con đường o dẫn đơn vị tới trận địa.

“Gọi là suối Tình Thương vì mấy o giao liên dẫn các chú bộ đội giải phóng Bắc Quảng Trị đi dọc con suối này vô mặt trận thì o nào cũng thương thương vương vương mấy anh. Chị em bảo nhau nếu bị đói thì giao liên ăn mì chứ không ăn lương khô của bộ đội. Khi bộ đội chưa ngủ yên thì giao liên chưa được ngủ. Nếu gặp địch thì khẩu súng của giao liên phải nổ đầu tiên để bảo đảm an toàn cho các anh.”

Hình ảnh của o đã ngay lập tức đi vào trang nhật ký nóng hổi của Trần Văn Hoàng.

“ Rất đỗi ngây thơ, rất đỗi dịu hiền

Đòi mũ mới chưa kịp cho đã khóc

Nhiệm vụ đến em kiên cường gan góc

Lựu đạn quanh người súng dọc trên lưng

Cô gái giao liên tuổi mới mười lăm…

Đường hành quân quanh co cheo leo hết dốc này tới dốc khác. Lúc mây trắng như dải lụa lơ lửng trên đầu, lúc quẩn quanh dưới gót chân, dưới thung sâu. Nào dốc Bà Định, dốc ông Thanh, lại cả dốc Ức Người, dốc Thấy Bà. Mỗi tên dốc là một kỷ niệm của đời lính.

Sau một chặng đường dài mọi người thấm mệt, nhất là khi phải chạy qua những trảng trống để tránh máy bay, anh nào anh nấy mồ hôi vã ra như tắm. Lạnh lưng, cay mắt.

Một đoàn dân công hoả tuyến vác đạn hoả tiễn A12 vượt lên trước chúng tôi. Mỗi chị em vác một quả đạn nặng tới bốn năm mươi kilôgam mà chân đi thoăn thoắt.

Trên trục đường có những điểm chị em gọi là toạ độ lửa. Trong một tuần có mấy ngày vượt toạ độ lửa an toàn nhất, trong một ngày lại có mấy giờ và trong một giờ lại có mấy phút an toàn, điều đó các o giao liên đã nắm được quy luật.

O Điệp khuyên tôi không nên hành quân vượt qua toạ độ lửa vào giờ này nhưng nhiệm vụ không thể trì hoãn. Phân đội phải đến sớm để sau khi cấu trúc xong trận địa làm sao có đủ thời gian để đánh dấu được hướng chuẩn cho đạn pháo hoả tiễn ngắm thẳng vào mục tiêu trước khi trời tối.

Trận địa hoả tiễn A12 của đơn vị nằm trên một triền đồi cách mục tiêu không xa lắm. Bom đạn và chất độc hoá học làm cho cây cối ở đây chết khô, vàng rụi.  Những thân cây tầy ôm bị bom đạn chém không còn một cành lá. Vỏ cây tróc từng mảng và cháy xém như cột nhà cháy, in lên nền trời đầy hơi núi và khói bom. Cả một khu đồi trùng trùng nhuốm màu úa vàng chết chóc, loang lổ, lỗ chỗ những hố bom, hố đạn đỏ quạch và những cánh dù pháo sáng trắng lốp tơi tả trước gió.

Để chọn được một trận địa vừa có thể ngắm trực tiếp vào mục tiêu, vừa có thể đắp bệ đất dóng hướng lấy góc bắn chuẩn xác và đảm bảo bí mật cho tới lúc bấm điện phát hoả cho đạn phóng đi thật không dễ dàng gì.

Trung đội phó chỉ huy Tiến cùng Bình đại đội 5, Đây đại đôi 6, Chí tiểu đoàn bộ dũng cảm bám đài, bám trận địa, bám địch, đo đạc chính xác. Khi nghi có thám báo địch anh em tìm địch mà đánh để bảo vệ trận địa. Đài Sao Kim một trăm năm mươi ngày đêm, khi thì sống dưới hầm, khi thì  bám trụ đài quan sát trên cây, bám sát từng cứ điểm mục tiêu, theo dõi từng hành động kẻ thù. Bám sát ở cự ly gần  hơn nữa có tổ trinh sát luồn sâu của Ngô Thịnh, Hồng, Nhuận

Trước mắt tôi lúc này về bên trái là căn cứ Cồn Tiên hai mỏm với những lô cốt tháp canh mọc lên xù xì như những mụn cơm gớm ghiếc. Ngay phía trước rất gần là căn cứ Bái Sơn chiếm một khoảnh đất dài đang lố nhố những xe pháo và những tên cướp Mỹ. Bên phải phía xa là căn cứ Thiết Trường Hạ với những khẩu pháo vua chiến trường 175mm đã từng reo rắc bao tội ác cho đồng bào Vĩnh Linh, Gio Cam, Hương Hoá.

Từ Cồn Tiên, Bái Sơn kéo đến Quán Ngang, Đông Hà cả khu tứ giác ấy hàng tháng nay xe ủi đất của giặc Mỹ đã cày lên không còn một bóng cây bụi cỏ. Xóm làng trơ trụi, còn đâu những rặng tre, những hàng dừa bao quanh. Tất cả chỉ còn là những khu tập trung Tân Kim, Cam Lộ với hàng ngàn túp nhà mái tôn nóng bỏng phơi mình dưới ánh nắng của miền nhiệt đới.

Sẩm tối trận địa đã hoàn thành công tác chuẩn bị. Mỗi pháo thủ đảm nhận đắp, lấy hướng, lấy góc bắn và nguỵ trang chu đáo cho hai bệ phóng. Toàn phân đội hai mươi tư bệ dàn thành ba trận địa cách nhau vài trăm mét. Một trận địa bắn bồi được đặt thêm do Quyết-tý-bồ đảm nhiệm. Quyết-tý-bồ là cầu thủ bóng đá nổi danh về luồn lách dắt bóng của tiểu đoàn. Một khi bóng đã vào chân anh đố ai có thể cướp được. Chiến sỹ thông tin, chiến sỹ điểm hoả rải dây. Tôi cùng phân đội trưởng trực tiếp kiểm tra thông mạch điều khiển tới từng bệ phóng.

Chuẩn bị xong tôi về hầm nghỉ. Hầm đã được dọn sạch sẽ và sàn đã được trải lá. Thì ra o Điệp giao liên vẫn còn đó và chăm lo chỗ ăn ở cho anh em. Căn hầm dành cho chỉ huy tất nhiên là căn hầm tốt nhưng nóc cũng đã bị sụt một góc, rất có thể là do trúng đạn pháo địch. Trải xong tấm ni lông tôi nốc một hơi nước mát trong bi đông rồi ngả lưng cho đỡ mệt.

Cửa hầm của tôi nhìn về hướng một ngọn núi cao, ban ngày nó trọc lốc đỏ hỏn như một chiếc nhọt ung. Giờ đây chủ nhiệm pháo sáng đang rầu rĩ chăng những ngọn đèn dù toả ra những tia sáng nhợt nhạt thấp thỏm trong sương đêm của rừng núi.

Tôi bật đèn pin hướng vào phía trong vách hầm. Ánh sáng từ một lỗ nhỏ ở mắt kính đèn toả ra làm ấm cả gian hầm lạnh lẽo mốc thếch. Lấy phong thư giắt ở vành mũ ra đọc. Thư chẳng nói gì nhiều, chẳng nói gì về Duân, chỉ nói là đã nhận được thư một chú giải phóng đem đến tận nơi. Nhà rất mừng là tôi vẫn khỏe mạnh, an toàn. Các con ở nhà vẫn học hành chăm chỉ…

Duân có cái tật viết rất chung chung. Lần trước sinh con suýt chết cũng viết ở nhà vui vẻ, hình như Duân không muốn làm điều gì khiến người lính ở chiến trường phải lo lắng.

Vậy là sớm mai trận chiến đấu đầu tiên của tiểu đoàn sẽ diễn ra. Một đơn vị pháo cơ giới hạng nặng, pháo dự bị chiến lược tầm xa, lại chuyển sang đánh địch bằng pháo đặt trên bệ đất, bắn ở tầm gần. Tiến công địch với một tinh thần như vậy hỏi đã có ở nơi nào trên trái đất.

2/8/69.

Chúng tôi đang bước vào trận chiến đấu đầu tiên. Một cuộc đọ sức một mất một còn với tất cả sự khốc liệt của nó.

Từ đây mỗi đợt bắn hai mươi bốn viên đạn như hai mươi bốn trái bom sẽ trút xuống căn cứ địch khiến chúng kinh hoàng. Nhưng sau đó với cột khói lớn ở trận địa của ta thì chỉ cần ít phút chúng sẽ bắn trả lại gấp mười lần hoặc nhiều hơn nữa. Không phải chỉ ném bom bắn pháo, chúng đủ sức dùng hoả lực quét sạch một vùng để phản lực trực thăng phóng rốc két, bắn đại liên xuyên vào từng cửa hầm, thậm chí đổ bộ thẳng xuống trận địa.

Mường tượng những gì có thể xảy ra trong trận chiến đấu đang đến từng giờ, từng phút, tôi bỗng nhớ đến Duân, đến Hồng, Hùng, Hà. Tôi cố nén cái thở dài vào trong để giấu đi một chút xao động. Quyết-tý-bồ sau khi đặt xong trận địa đánh bồi vào nằm bên tôi đã ngáy đều đều. Đánh bồi là lối đánh bổ sung trong khi địch đang hoang mang, vừa đạt hiệu quả chiến đấu cao vừa nghi binh thu hút hoả lực về mình để đồng đội rút khỏi trận địa an toàn.

Không tài nào ngủ được, lấy đèn pin soi lên trần hầm, tôi thấy những đoạn gỗ mốc trắng bắc nghiêng châu đầu vào nhau tạo thành chữ A. Nhiều đoạn mục đã mọc lên những cây nấm dại. Trên hàng cột gỗ là phên nứa trải ra để lót đất. Phên đã bị mối mọt ăn mủn từng mảng, chỉ cần chấn động mạnh là đất sẽ tụt xuống. Nằm nghe tiếng cọt kẹt nghiến gỗ của mọt, tiếng rào rào nhai gỗ của mối. Thỉnh thoảng bụi gỗ hoặc con mối lại rơi xuống người. Một ý nghĩ vụt đến trong tôi, liệu khi căn hầm này sập xuống thì điều gì sẽ xảy ra. Tất nhiên hàng vạn con mối con giun sẽ xâu vào, rúc vào để hoá thân tôi trở lại cát bụi. Cũng chẳng có gì có thể suy diễn mường tượng hơn nữa. Sau một ngày hành quân và cấu trúc trận địa đã thấm mệt tôi ngủ thiếp đi lúc nào không biết khi tỉnh dậy thì trời đã sáng.

Máy bay địch quần thảo sớm hơn mọi ngày. Trên trời xuất hiện những chiếc trực thăng mà anh em thường gọi là quan tài bay. Rất có thể chúng sẽ đổ quân xuống đâu đó để càn quét. Lệnh chiến đấu đã được truyền xuống từng trận địa. Đúng như dự đoán của ta khi những chiếc trực thăng vừa hạ cánh. Quân Mỹ vừa thoát ly công sự  thì tôi nhận được lệnh điểm hoả.

Tú được vinh dự trèo lên cây bắn pháo hiệu lệnh cho trận địa điểm hỏa. Trong giây lát từng cụm đạn hoả tiễn của ta trùm lên khu mục tiêu. Một chiếc trực thăng vừa cất cánh bị trúng đạn bốc cháy. Mấy chiếc máy bay và nhiều xe đậu ở căn cứ bị phá huỷ. Lập tức địch oanh kích dữ dội phía sau trận địa pháo để chặn đường rút chạy, nhưng pháo thủ ta lại rút chếch về phía trước.

Quyết-tý-bồ điểm hoả xong chạy lại trận địa bắn bồi, lanh lẹn cứ như anh đang dắt bóng trên sân cỏ. Trận địa còn sót mấy viên chưa phóng đi, có thể do pin yếu, Sinh, Khiêm đại đội 6 dũng cảm sang cụm 3 lấy máy điểm hỏa về tranh thủ lúc pháo đạn còn bao phủ dầy đặc kiểm tra lại và bắn tiếp.

Trực thăng địch sà xuống thấp. Vừa lúc hai trái hoả tiễn vút lên ngay dưới bụng trực thăng. Quyết bị thương anh vẫn cố chạy tới điểm hẹn. Ôi thằng Quyết. Mới hôm nào nó tranh thủ về thăm vợ đẻ rồi đón đơn vị trên đường hành quân sung sướng reo lên báo cho mọi người biết nó có con trai. Giờ thì chẳng còn khi nào nó được trở lại thăm con trai nữa.

Sau trận chiến đấu đầu tiên. Trong lúc pháo thủ đắp bệ phóng thì các chiến sỹ còn lại trong tiểu đoàn được huy động vác đạn. Đêm đầu số người của đại đội 6 vác một viên (gần 50 Kg) có thể đếm trên đầu ngón tay. Đêm thứ hai tăng lên. Đêm thứ ba mỗi người vác hẳn một viên. Cảnh, quản lý, Cần, tiếp phẩm, Khỏa anh nuôi đểu vác dạn. Vác đạn hành quân đêm, quân khí viên Ngô Văn Xưởng đại đội 5 bị ngã mấy lần vẫn cố theo kịp đội hình. Anh nuôi Khâu vừa hạ gánh cơm xuống lao vào vác đạn ngay.

Thám báo Mỹ vừa lui ta xốc tới ngay. Các tổ chiến đấu lùng sục trên điểm cao 161 bảo đảm an toàn cho trận địa. Trận thứ hai trên giao hai mươi bệ phóng, anh em đắp hẳn ba mươi bệ. Riêng đồng chí Sự một mình đắp năm bệ trong 2g30 phút. Năm chiến sỹ đại đội 6 hoàn thành 20 bệ trước sáng trong điều kiện bom đạn ác liệt. Chỉ riêng trận đánh ngày 5 tháng 8 đich bắn tới khu vực trận địa khoảng bốn ngàn trái đạn đại bác, đơn vị vẫn anh dũng trụ lại chiến đấu liên tục. Số người xung phong trụ lại bao giờ cũng nhiều hơn số yêu cầu như Thìn, Trung đại đội 6. Xinh đại đội 5 trước có dao động nay xung phong ở lại điểm hỏa.

4/8/69

Không thể tưởng tượng lại gặp được Nhật ở chiến trường. Nhật là chàng trai theo đuổi Loan, em gái của Duân. Nhật có cái răng khểnh rất duyên. Một mảnh gang nhỏ đang nằm trong cổ, băng cộm lên những vệt máu đã khô đen, mặt cậu ta tái nhợt thế mà gặp tmình nó ríu rít hỏi thăm quê nhà. Hỏi bằng mồm bằng cả mắt. Đặc biệt hỏi về Loan.

Tôi ái ngại về mảnh gang đang còn nằm trong cổ, Nhật bảo mặc nó nằm ở cổ, về trạm phẫu, bác sỹ sẽ hỏi tội. Nhật và mấy chú đi cùng đều rất trẻ, có chú mới vào bộ đội tháng 9 năm ngoái mà đã được tận mắt nhìn thấy khỉ đột Mỹ, đã được tự tay phóng B40 vào chiếc tăng khổng lồ của Mỹ. Chúng đổ ra Phù Tân Ấp mấy chục xe tăng thiết giáp, mấy chú đã lợi dụng cỏ gianh bò vào giữa ban ngày cách chúng chỉ dăm bảy chục mét, lại ưng chọn chiếc nào có chỉ huy, để chĩa B40, B41 vào nổ thì làm gì không chắc trúng.

Riêng cậu Nhật mà cái Loan mê tít ấy chẳng những có duyên với các o mà còn chiến đấu giỏi, một mình nó diệt được hai chiếc lại dìu được đồng đội bị thương ra. Tuổi trẻ như vậy thật đáng kính nể.

Đây là một đoạn tư liệu kết quả bắn đạn A12 vào căn cứ Cồn Tiên, Bái Sơn của tiểu đoàn trong ngày 5 tháng 8 năm 1969 mà tôi còn lưu giữ được

8g30  đại đội 6  Cụm đạn 1   Cồn Tiên   Kết quả: Khu hậu cần tây và khu bạt, có đám cháy khói đen rộng 16m, cao 40m, cháy ngày càng to

9g40   đại đội 6    cụm 3       Cồn Tiên  Khu hậu cần đông có ba đám cháy lớn khói đen, càng ngày càng bốc cao và to. Thỉnh thoảng có tiếng nổ

9g53   đại đội 6  cụm 2   Cồn Tiên   Đám cháy màu da cam ở bãi xe cao 20 m rộng 100m

11g55  đại đội 5  cụm 1   Bái Sơn    Một đám khói đen vàng cao 50 m. Một trực thăng cháy

13g22 đại đội 6   cụm 3  Cồn Tiên  Một trực thăng cháy ở khu  lô cốt. Khu  công trình có quầng bụi và tiếng nổ

14g16  đại đội 6  cụm 4  Cồn Tiên  Kho cháy, 2 đám khói đen vàng lan rộng có cột khói cao 150 rộng 100m

16g17  đại đội 5    cụm 3   Bái Sơn  Địch chạy. Khu bạt vắng tanh sau 15 phút có 2 trực thăng hạ chở lính bị thương và chết

18g12   đại đội 5  cụm 2  Bái Sơn Một trực thăng cháy bay về phía Cồn Tiên. Có 2 đám cháy khói cao 15m rộng 30m

18g08   đại đội 6  cụm 4  Cồn Tiên   Một trực thăng cháy bay về hướng đông bắc. Kho có tiếng nổ. Khói đen vàng lẫn lộn bốc lên càng cao và rộng.

Hôm tiểu đoàn tổng kết trận đánh tôi có ghi lại được một bài bích báo của chiến sỹ nói về trận đầu đánh pháo của tiểu đoàn.

Cuộc đời ta hôm nay vui nhất

Voi của đoàn ta dầy nát đồn thù

Cồn Tiên trong khói lửa mit mù

Miếu Bái Sơn, Phượng Hoàng bốc cháy

Tiếng khẩu lệnh nghe sao như sấm dậy

Mục tiêu thù cụm đạn ầm vang

Mười tám kho súng đạn phút chốc tan hoang

Hai trăm Mỹ Ngụy ngổn ngang phơi xác

Đoàn ta trở về cất cao tiếng hát

Đường nhỏ giao liên vui đón chiến công

Tháng tám mùa thu thắm đỏ chữ hồng

Ghi chiến thắng đoàn 2 trên trang sử

Trong mấy bức thư mà Bình liên lạc chạy theo đội hình hành quân đưa cho chúng tôi, có bức thư của Thìn pháo thủ. Tôi đã có dịp ghi lại bức thư của ông thân sinh ra Thìn viết cho anh lần trước và lần này là bức thứ hai

Nam Hà ngày 23 tháng 9 năm 1968

Thìn con

Từ đầu tháng 5-1968 thầy đã nhận của con mấy lá thư và đều viết trả lời cả. Lá thư trước con nên xem cho kỹ, xem đi xem lại và nghiên cứu ý thầy muốn nói gì. Và thầy gửi cho 10 tem thư, con đã nhận được chưa. Trong thư đó thầy căn dặn cơm của dân con ăn, nhân dân nuôi con, con phải hết lòng vì dân mà phục vụ, đối với cấp trên phải khiêm tốn. Mối khi mắc khuyết điểm con phải tự sửa, cấp trên phê bình con phải nghiêm khắc tiếp thu, chớ có cười đùa như ở nhà thì thật là nguy hiểm lắm. Điều con còn mắc nhất là đối với nhân dân còn nói năng bừa bãi. Mắc phải khuyết điểm cấp trên phê phán lại cười, thế là thiếu nghiêm túc. Bước chân vào quân đội con phải làm tròn nhiệm vụ thời gian tại ngũ. Khi trở về nhà mà tiến bộ đó là đạt yêu cầu nhất mà thầy mẹ anh mong muốn. Phải chăm lo rèn luyện tinh thạo các khoa mục, đừng có luẩn quẩn để ý đến gia đình nhiều quá. Nếu còn ở gần tỉnh nhà nên gửi thư mỗi tháng một lần căn bản báo cáo công tác và tu dưỡng, xem gia đình theo dõi sự biến chuyển và tiến bộ của con đến đâu. Không nên biên nhiều thư, viết nói luẩn quẩn, viết vu vơ. Con đừng hiểu lầm cho là thành phần chính trị gia đình cha anh là căn bản. Căn bản mà không khiêm tốn, cứ bừa bãi cũng chẳng ra gì. Những nhời thầy nói con phải ghi sâu tâm trí đừng có coi thường mà sau này mắc phải mới thấy rõ lời giáo dục của thầy là đúng. Ít nhiều những điểm trên thầy cũng mắc phải khi tuối còn trẻ mới bước vào quân đội mà đã rút ra giúp đỡ con sau này. Con người phải biết suy nghĩ phải trọng danh dự, quyết không để ai phạm đến danh dự của mình mà mình cũng không được phép phạm đến danh dự người khác…

Nam Hà ngày 7-3-1969

Thìn con

Rời ghế nhà trường con đi làm nhiệm vụ thanh niên, tuổi chưa được mười sáu, một vinh dự lớn lao đối với gia đình và bản thân con đó. Giặc Mỹ đem bom sát hại nước ta. Chị con hy sinh trong lúc đang làm nhiệm vụ, gia đình con bị hư hại. Anh con theo tiếng gọi của tổ quốc lên đường  giết giặc. Con rời ghế nhà trường đi trả thù nhà đền nợ nước, cha mẹ xa con, chị em vĩnh biệt không bao giờ thấy. Mối thù sâu sắc này con phải trả, trút hết lên nòng súng bắn vào đầu giặc Mỹ.

Giặc Mỹ làm cho con không được học, làm cho con xa thầy mẹ, xa chị, xa anh, xa xóm làng, xa quê hương yêu dấu. Nếu không có giặc Mỹ thì hiện nay con đang ngồi ở trường trung cấp kỹ thuật rồi. Việc con ra đi làm nhiệm vụ là xuất phát từ lòng căm thù giai cấp. Đến nay con đang hiên ngang trên mâm pháo, bắn xả vào đầu giặc trả thù nhà đền nợ nước, đang làm nhiệm vụ của tuổi trẻ anh hùng

Anh con mang dòng máu của cha đang chiến đấu dũng cảm, đang làm nhiệm vụ của một đảng viên anh dũng nối gót cha đánh Pháp như năm xưa. Con nên noi gương anh con mà chiến đấu dũng cảm không sợ hy sinh, quyết tử cho tổ quốc quyết sinh…

……………………………….

Gửi Phan Văn châu, gửi Giao chỉ San Jose

Tình cờ lướt qua mạng thấy bài viết của các anh có nói tới pháo Bông Lau. Tôi thấy buồn cho các anh. Chiến tranh đã qua đi hàng mấy chục năm, tướng Cao Kỳ của các anh đã về nước và tổng thống Hoa Kỳ cũng sang Việt Nam hòa đồng và từ thù chuyển thành bạn. Nghĩa cử đó quá đẹp sao các anh không về đi, chúng ta bắt tay nhau và qua đó sẽ giải tỏa tâm lý và thương nhau hơn. Đừng reo mầm thù hận tới thế hệ con cháu, tội nghiệp cho chúng. Dù sao chúng ta cũng chung một dòng máu Việt Nam.

Tuy nhiên là lính Bông Lau tôi cũng có vài lời nói để các anh hiểu đúng lịch sử, vì chắc rằng người có mặt thực sự trong thời gian đó trong số các anh bây giờ chẳng còn mấy.

Trước hết các anh hãy đọc lại nguyên văn đoạn nhật ký mà các anh dẫn giải.

1/5/72

6 giờ sáng đài quan sát tiểu đoàn chia đôi, bộ phận chính theo tôi đến chiếm lĩnh ở điểm cao 132.

Trung đoàn 24 bộ binh vào chặn địch rút ở nam La Vang.

Đại đội 4 bắn đoạn 414 trận địa pháo địch ở Tân Điền. 12/22 viên trúng mục tiêu, trúng sở chỉ huy, diệt 2 pháo, địch phải bỏ trận địa pháo.

Đại đội 6 dùng pháo lựu 155mm chiến lợi phẩm thu được của địch từ căn cứ 241, bắn bộ binh địch tập trung ở Cổ Thành, một phát rơi gần sở chỉ huy sư bộ binh 3 địch (mới) cột cờ bị gãy. Vì bắn địch ở cự ly gần, trung đội trưởng Vượng phải cho pháo ngóc nòng lên một góc độ lớn, nên khi đạn rơi xuống mục tiêu hiệu quả sát thương phá hoại gần như là đạn súng cối. Sức khoan của đạn lớn, địch rất sợ.  Lúc đầu địch kêu toáng lên là Việt Cộng có vũ khí mới sau chúng mới biết chính là đạn pháo 155mm của chúng rơi vào tay pháo binh ta lại giội lên đầu chúng.

Với quân Ngụy cột cờ bị gãy là điềm gở. Cái hồi cột cờ bằng gỗ ở Biệt Điện, Đà lạt không mối mọt mà tự nhiên gẫy nhào, lúc đó cựu hoàng Bảo Đại đang ở Pháp không về được, bà Tứ cung phải tức tốc từ Huế bay vô lập đàn chay cúng vái trời đất rồi dựng cột cờ mới ngay, nhưng cũng chẳng có hiệu quả. Vài tháng sau Bảo Đại bị phế truất.

Tiểu đoàn tập trung đánh địch co cụm..

Tiểu đoàn không đánh địch trên đường nữa vì đã có xe tăng và bộ binh ta phục kích chờ địch.

Lệnh anh Tuế trong đêm đại đội 5 phải cơ động lên chiếm lĩnh trận địa mới ở Thượng Phước để bắn vào Đồng Lâm. Đại đội 5 đã đưa được 2 khẩu qua sông Thạch Hãn chiếm lĩnh trận địa và chuẩn bị xong trước sáng.

_____________________________________

Trên đây là toàn bộ đoạn nhật ký ngày 1 tháng 5 năm 1972 trong cuốn Mùa hè cháy. Những đoạn tô đậm là những đoạn có liên quan đến pháo Bông Lau. Vậy pháo Bông Lau trong ngày đó có lệnh bắn nào liên quan tới đoạn đường mà các anh nói đâu.

Trong nhật ký nói rõ hai điều:

1- Trung đoàn 24 bộ binh vào chặn địch rút ở nam La Vang.

2- Tiểu đoàn tập trung đánh địch co cụm ở cổ thành

Tiểu đoàn không đánh địch trên đường nữa vì đã có xe tăng và bộ binh ta phục kích chờ địch.

Vậy sao mấy người ở San Joe lại cố tình nói lạc đi như vậy Hay là các anh còn ôm hận chiến tranh, còn bị bọn chiến tranh chính trị lửa phỉnh gây chia rẽ sau mấy chục năm chiến tranh đã qua đi. Nếu hận chiến tranh thì chúng tôi còn hận hơn các anh nhiều. Biết bao gia đình chúng tôi, đồng đội chúng tôi đã ngã xuống dưới hỏa lực pháo bày bắn như đổ đạn của các anh, của đồng minh các anh. Đừng bao giờ quên, chính các anh đã kêu không quân Mỹ kể cả B52, kêu hải quân Mỹ với những quả đạn pháo cực lớn 402 mm bắn và ném bừa bãi xuống Quảng Trị với lượng bom tương đương bảy quả bom nguyên tử giết hại không biết bao nhiêu người của chúng tôi, của chính các anh và dân thường. Chưa thỏa lòng các anh còn kêu B52 của Mỹ ra tận Hà Nội ném bom tàn phả cả phu khố Khâm Thiên, cả bệnh viện Bạch Mai.

Xin nói để các anh rõ thêm. Trong nhật ký cũng đã có đoạn nêu, những người đi B bất kể binh chủng nào đều phải qua lớp học tập chính sách của Mặt trận Dân tộc giải phóng là phải tôn trọng dân, bảo vệ dân, không quấy nhiễu dân… phải tiết kiệm đạn, khi không cần thì một viên cũng không được bắn, bởi đạn dược là xương máu, quân giải phóng làm gì có nhiều đạn mà bắn bừa bãi. Pháo của Bông lau đạn nặng càng phải tính từng viên.

Nều bắn bừa bãi sao nhanh chóng nhận đầu hàng của trung đoàn 56, ở căn cứ 241cứu nguy tính mạng cho cả ngàn binh sỹ. Nếu bắn bừa bãi sao giữ cho Sài gòn bình yên trong ngày giải phóng, không hề có tắm máu như cơ quan chiến tranh chính trị của mấy anh tuyên truyền gây hoảng loạn trong dân chúng.

Nói thêm một chi tiết

Trong chiến dịch này người chỉ huy tiểu đoàn phải có mặt trên đài chỉ huy chính là để bắn có kế hoạch, bắn cho chính xác, đúng mục tiêu, đâu phải để bắn bừa bãi. Đài chỉ huy không phải là đài tiền sát hay đài tiền tiến, có khi xa mục tiêu hàng chục kilomet. Và nguyên tắc là bắn phải có lệnh trên đâu được tùy tiện. Người chỉ huy tiểu đoàn pháo lúc đó ở cao điểm 132. Cao điểm 132 làm sao trực tiếp nom thấy được đoạn đường đó. Chưa kể lúc này tiểu đoàn mới bị máy bay oanh tạc, cả trận địa một đại đội bị thiêu hủy, phải lấy pháo 155 chiến lợi phẩm thu được ở cao điểm 241 để bắn vào cổ thành, xe chở đạn cũng bị phá hủy chuyên chở rất khó khăn, đạn phải tính từng viên.

Nói riêng một chút về gia đình tôi, một em là nghệ sỹ violon ở Phan thiết bị trực thăng bắn chết cùng bốn cô văn công trong lúc đói đi trồng sắn; một em là bác sỹ bị nhiễm chất độc da cam, con gái bị tàng tật khổ suốt đời; một em bị thương ở Đà Nẵng. Đại gia đình tôi mấy người trong quân lực Việt Nam cộng hòa sinh sống ở Mỹ như các anh cũng đã về nước.

Ngay từ khi mới giải phóng Sài gòn, lúc đó là phóng viên tôi đã ngồi cùng mâm với người anh họ là trung tá trong Quân lực.

Chiến tranh tất có thắng bại. Chúng tôi không thắng thì các anh thắng. Chiến tranh tất có tổn thất. Đừng quá nặng lòng với quá khứ. Đất nước đang sẵn sàng giang tay đón các anh về chung tay xây dựng đất nước.

giới thiệu sách về ngày 22/12

Trường THCS Gio Quang

Thư viện GIỚI THIỆU SÁCH 22/12 Kính thưa quý thầy, cô giáo! Cùng các bạn học sinh thân mến. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, chiến tranh hay hoà bình – Người chiến sĩ luôn được nhân dân tin yêu, đùm bọc. Với họ – những người lính, lẽ sống là sự toàn vẹn lãnh thổ, là độc lập dân tộc và bình yên cho nhân dân.             Nhân nhịp kỷ niệm 66 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22/12/1944 – 22/12/2010 thay mặt tổ công tác thư viện em xin giới thiệu với thầy, cô cùng các bạn quyển Nhật ký chiến tranhMùa hè cháy” của Quý Hải.          Cuốn Nhật ký “Mùa hè cháy” của tác giả Quý Hải mô tá khá sinh động, chân thực tinh thần chiến đấu ngoan cường của biết bao cán bộ, chiến sĩ Pháo binh, Công binh, Bộ binh và nhân dân đã dũng cảm vượt qua bom đạn khốc liệt giành chiến thắng tại mặt trận Quảng Trị, mùa hè 1972.          Như chúng ta đã biết, trong những năm tháng chiến tranh, khi đất nước còn bị chia cắt thì Quảng Trị là vùng đất chiến lược của cả ta và địch, là cửa ngõ giữa hai miền Nam Bắc. Đối với kẻ thù, Quảng Trị là tấm lá chắn để ngăn chặn ta đưa lực lượng phương tiẹn và vũ khí chi viện cho miền Nam. Vì vậy Quảng Trị luôn luôn là vùng đất đối đầu giữa ta và địch, mà đỉnh điểm là mùa hè 1972… Và chiến công Quảng Trị là bản anh hùng ca sống mãi với mọi thời đại.          “Mùa Hè cháy” là những tranh nhật ký của đại tá Quý Hải nguyên tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2, trung đoàn Pháo binh 38 (Đoàn Pháo binh Bông Lau), viết về anh và đồng đội của anh trên chiến trường Quảng Trị những năm tháng đó. Đây không chỉ là những dòng nhật ký cá nhân, mà ở đó Quý Hải đã viết về tinh thần chiến đấu ngoan cường của biết bao nhiêu chiến sĩ Pháo binh đã dũng cảm vượt qua bom đạn khốc liệt để giành chiến thắng, ở đó còn có cả những ước mơ hoài bão của tuổi trẻ cùng ký tưởng cách mạng, niềm tin về chiến thắng của dân tộc. Có thể nói đây là tác phẩm có giá trị, phản ánh trung thực những sự kiện, những nhân chứng của một thời lữa và hoa.          Kỷ nguyên hoà bình thống nhất đã mở ra trên đất nước Việt Nam. Hơn ba mươi năm chiến tranh đẫm máu đã lùi vào dĩ vãng. Lùi mãi, lùi nữa và đùng bao giờ trở lại. Người Việt Nam muốn khép lại quá khứ, muốn quên đi những năm tháng chiến tranh, muốn quên đi thù hận. Sẽ đến một ngày chiến tranh chỉ còn là một tự kép trong từ điển, chỉ động lại trên vài trang viết trong pho sử Việt Nam, chỉ còn ghi lại dấu ấn trong lời hát ru, trong giai điệu một vài bài ca bất tử.          Cuốn sách này bằng những dòng nhật ký viết về những ngày tháng tác giả làm tiểu đoàn trưởng, viết về tiểu đoàn 2, viết về trung đoàn 38 và những bài ghi chép, phóng sự kể lại những gì đã diễn ra cả về phía ta và phía địch trong cuộc chiến Quảng Trị mùa hè năm 1972 sẽ giúp bạn đọc có cơ hội để thấu hiểu một góc nhỏ những gì thế hệ cựu chiến binh đã phải trải qua, để nhận rõ bộ mặt chiến tranh.          Cùng như bao đọc giả khác em rất xúc động khi đọc cuốn nhật ký “Mùa hè cháy” và tin tưởng rằng tác phẩm sẽ góp phần truyền lại cho thế hệ hôm nay và mai sau tình cảm, lý tưởng cách mạng và kinh nghiệm chiến đấu đã được đúc kết bằng xương máu của các thế hệ đi trước. Hy vọng tác phẩm sẽ được đông đảo bạn đọc, nhất là thế hệ trẻ quan tâm để noi gương cha anh, nuôi dưỡng tình yêu đất nước và bản chất anh hùng cách mạng, học tập, lao động và sẳn sàng chiến đấu, hy sinh để xây dựng và bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.                     Kính thưa quý thầy cô cùng các bạn thân mến!Trong thời gian có hạn Thư viện xin chân thành cám ơn sự theo dõi của quý thầy, cô và các bạn về việc giới thiệu sách.Rất mong thầy cô và các bạn nhiệt tình tìm đọc, hy vọng cuốn sách này giúp các bạn, quý thầy cô tìm thấy những điều bổ ích cần thiết cho mình.                                                      Gio Quang, ngày 13 tháng 12 năm 2010 Cán bộ thư viện Nguyễn Thị Liễu


Nguyễn Thị Liễu @ 08:25 21/12/2010

SẴN SÀNG CHIẾN ĐẤU BẢO VỆ

BỜ BIỂN THIÊNG LIÊNG CỦA TỔ QUỐC

18/1/70

Đ

ại đội 4 đã chiếm lĩnh trận địa phòng ngự bờ biển ở khu đông an toàn. Các đài quan sát biển cũng đã được triển khai.Tôi trực tiếp xuống khu đông kiểm tra việc triển khai sẵn sàng chiến đấu của đại đội. Tới Cạp Lài tôi xuống xe tạt sang trái vào Vĩnh Trung. Trời mưa, rét căm căm. Ngoài bắc có nơi rét 0 độ vậy mà vẫn thấy ấm cúng lạ.Bài hát Câu hò bên bến Hiền Lương tình cảm thiết tha vang lên từ các loa phóng thanh nối nhau từ xóm này sang xóm khác như một bản trường ca bất tận.Qua cửa hàng hợp tác xã o Hồng, tôi vượt lên đồi cát lớn. Những con đường mòn vắt chéo qua cồn cát in dấu chân người chồng lấp lên nhau. Hai bên đường cát trắng mịn màng. Đã mệt, leo cồn cát càng mệt thêm. Cát lún dưới chân, cảm giác như luôn có người níu lại. Mấy khung hầm chữ A trong hệ thống đài quan sát bị sập chồi lên mặt cát. Chân đồi là con suối nhỏ nước chảy siết. Ruộng chạy quanh ria đồi hẹp đến nỗi từ cồn cát này có thể ném đá qua cồn cát kia.Qua cồn cát xuống một thung nhỏ, đó là thôn Mỹ Hội hậu cứ của H5 cũ. Thôn Mỹ Hội dựa vào hai con đường trục vuông góc với nhau. Nhà ở rải rác, vườn nối vườn không có hàng rào ngăn cách. Một hệ thống giao thông hào chạy men theo con đường sau mùa mưa cỏ đã rậm. Nhà trong thôn cứ túp một, túp một. Cả xóm chỉ có độc nhất một giếng xây, nước trong vắt.Nhà của ban chỉ huy đại đội và bộ phận trinh sát gần nhau. Phía trước có sân bóng, có vườn. Bàn tay bộ đội tới đâu là đẹp ngay tới đó. Nhưng địa phương yêu cầu không được ở tách ra như vậy, phải chuyển vào ở trong thôn để giữ bí mật.Nhân dân ở đây cũng như Thái Thuỷ nghèo tiền, nghèo bạc chứ không nghèo tình, nghèo nghĩa. Phải nói là nghèo lắm chẳng có gì để bán, ngoài ít rau củ. Hầu như gia đình nào cũng có tang tóc.Trận địa pháo của đại đội đặt ngay ở đầu nhà dân. Không phải là pháo mang vác mà đây là pháo lớn, khi bắn tầm xa, nòng phải vươn cao lên bảy tám mét, lửa đầu nòng phụt lên thêm hàng chục mét nữa. Khi đó nhà ắt sẽ là mục tiêu cho máy bay và pháo hạm đội 7.Một điều rất đơn giản, người dân Vĩnh Thắng thấy trận địa cần thiết phải đặt ở chỗ này, ngay vườn sau nhà họ, vì chỉ ở chỗ đó họ mới ưng, mới an toàn và bất ngờ nhất. Đây không phải chỉ là ý nghĩ mà chính từ những trận địa đó các chiến sỹ H5 trước đây đã nổ súng giòn giã đánh trọng thương thiết giáp hạm Niu-giơ-dy của địch. Hơn thế trong những trận đó, chính con em của Mỹ Hội đã trở thành những pháo thủ dự bị, những chiến sỹ cứu thương.Chuẩn bị cho những trận chiến đấu đầu xuân Canh Tuất đại đội 4 đã được thiết lập trận địa tại đây và từ đây đã được chuyển hướng về phía nam 4-00 sẵn sàng giáng trả chúng những đòn quyết liệt nếu chúng dám liều lĩnh tiếp tục đánh Cồn Cỏ.Chỉ trong hai tuần lễ đại đội đã làm được tốt những việc lớn. Đài quan sát chính giờ đây được đặt ngay trên một điểm cao bất ngờ nằm ngay ven xóm Tân Hòa. Xóm của những dũng sỹ vận tải đại đội 22 Cồn cỏ:.Đài giao hội ở ngay mép nước trên một sườn đồi gần Mũi Lay, Vịnh Mốc. Nơi ngày ngày những con sóng nhỏ nghiêng nghiêng gợn một chút bọt trắng nơi đầu lưỡi sóng đua nhau chạy vào bờ lúc như tâm tình lúc như đùa giỡn với cánh lính trinh sát pháo binh. Cũng ì oạp sóng vỗ bờ, cũng rì rào tiếng phi lao, cũng những cánh buồm no gió, những khoang cá đầy và ngợp trong không gian mênh mông mặn muội. Cảnh tượng thanh bình yên ả đến lạ thường, vậy mà đây lại là túi bom toạ độ của máy bay và pháo biển. Anh em phải ra tận Vĩnh Tú đẵn cây đóng bè kéo men bãi biển về làm công sự  đài quan sát, tránh bom, tránh pháo.Hệ thống đài giao hội trước đây cự ly đáy dài 4 km, nay mở rộng tới 7 km, tha hồ giao hội mục tiêu, đảm bảo cho pháo bắn ở cự ly xa, vẫn đạt mức chính xác. Đội hình chiến đấu hiện nay và trước kia, đất cũng như biển đều được phân đội đo đạc của đại đội 14, trung đoàn và trung đội chỉ huy tiểu đoàn đảm nhiệm đo lại với mức chính xác nhất.20/1/70Từ đài quan sát chính giương ống nhòm bội số lớn tôi nhìn thấy đảo Cồn Cỏ. Hôm nay trời rất trong, tầm nhìn xa trên mười kilômét. Cồn Cỏ chỉ cách Vịnh Mốc 28km. Cái khoảng cách không xa bao nhiêu ấy đã có biết bao nhiêu người đi mà không về. Người ta gọi Cồn Cỏ là tọa độ Đỏ, có thể bởi gần như chỉ có ở đảo nhỏ này mới có thứ san hô đỏ, thứ san hô linh thiêng không phải ai cũng mang được nó ra khỏi lòng đại dương, cũng có thể vì Cồn Cỏ đã nhuốm máu biết bao chiến sỹ và đồng bào ta.Từ mùa xuân 1965, đây là một trọng điểm đánh phá cực kỳ ác liệt của Mỹ và chính quyền Sài Gòn. Toạ độ Cồn Cỏ luôn được tô đậm trên các tấm bản đồ bay của giặc lái Mỹ. Máy bay Mỹ từ hạm đội 7 vào đánh phá đất liền, lượt về, còn bao nhiêu bom đạn chưa kịp oanh tạc thì giội luôn xuống Cồn Cỏ. Những năm tháng ấy, Cồn Cỏ ngày đêm ngút ngàn khói bom, cây rừng tan tác.Cồn Cỏ nằm gọn trong lưới lửa của hạm đội 7, chẳng còn đường tiếp tế. Gạo hết, khẩu phần ăn của bộ đội giảm đến mức tối thiểu. Nước hết, một quả bom Mỹ đánh trúng bể chứa nước mưa. Bộ đội phải chặt cây chuối rừng vắt lấy nước uống. Thuốc men y tế cũng hết, quân số thương vong ngày càng nhiều, không chuyển vào bờ được. Cơ số đạn cuối cùng được lắp vào hộp tiếp đạn. Những hòm đạn pháo 85mm cuối cùng đã chuyển vào vị trí. Cồn Cỏ đang cơn nguy cấp, Cồn Cỏ đang lịm dần tiếng súng!Những bức điện cấp cứu từ Cồn Cỏ đánh vào mỗi lúc dồn dập như thiêu đốt trái tim người Vĩnh Linh. Khu uỷ Vĩnh Linh phát lời kêu gọi: “Tất cả vì Cồn Cỏ!”. Với quyết tâm “Còn đất, còn đảo”. Và như một lẽ đương nhiên, hàng ngàn lá đơn tình nguyện của thanh niên, dân quân, cả những cụ già 60-70 tuổi các xã Vĩnh Quang, Vĩnh Giang, Vĩnh Thạch, Vĩnh Thái nguyện xung vào đội cảm tử đi tiếp tế Cồn Cỏ…Trận địa pháo 130mm của tiểu đoàn tôi với tầm bắn ngót 30 km được đặt dưới sự chỉ huy của Bộ chỉ huy quân sự Vĩnh Linh sẵn sàng nổ súng vào tàu địch bảo vệ, chi viện cho các đoàn cảm tử  Cồn Cỏ.21/1/70Những ngày ở khu Đông, tôi thường ăn ngủ với chiến sỹ trong khẩu đội. Anh em bắt cua đồng bóc mai, bóc yếm cho vào chảo mỡ rán cho đến khi còng lên màu đỏ sậm, cắn thử ròn tan mới đem lên bàn ăn chiêu đãi tôi. Cua đồng bà con ở đây không ăn nên rất sẵn. Ngồi quây quần bên bếp lửa sực nức mùi thơm vừa bùi, vừa ngậy, vừa mặn của cua rang, của mắm kem chưng mỡ, chưa ăn đã thấy ngon miệng.Còn vài tuần nữa mới tết nhưng ở đây nhà nào nhà nấy đã quét dọn trang trí. Nào câu đối tết, tranh tết, nào lịch Bác Hồ và Kan Lịch. Cành đào giả hoa giấy, những quả bưởi giả bằng phao thuỷ tinh lấy ở bãi biển gián giấy đỏ. Đêm đêm xen tiếng pháo cầm canh, tiếng súng máy đụng độ là tiếng chày giã gạo rộn rã trong xóm. Bà con chuẩn bị bánh trái, chè kho, chuẩn bị cho nồi bánh chưng ăn tết cùng với bộ đội.Hoàn thành công việc kiểm tra ở khu Đông, tôi trở lại cứ của tiểu đoàn. Ô tô vượt ngầm sông Bến Xe đưa tôi trở về đơn vị trong niềm vui của những ngày cuối năm.Càng gần tết không khí chuẩn bị chiến dịch mùa xuân càng nhộn nhịp hối hả. Những đoàn dân công Hà Tĩnh, Kỳ Anh, nón nguỵ trang kĩu kịt đôi bồ, trai có, gái có, phơi phới tuổi xuân, đi tới suối, suối reo, đi tới rừng, chim rừng ríu rít, sau những ngày hành quân dài chị em đã tới chặng đường cuối.Những đoạn đường lầy lún, những chỗ cua gấp nguy hiểm, cả những chiếc cầu gỗ trên đoạn đường 42 rậm rạp, chỗ nào cần chị em có, chỗ nào khó có chị em. Bến lội được bổ sung thêm cầu treo xinh xắn do các chiến sỹ công binh mặt trận làm.Ngoài khu Hồ Xá dọc con sông Sa Lung trong vắt, các chiến sỹ đoàn 31, các chiến sỹ quân địa phương Bắc Quảng Trị dũng cảm, các o du kích Gio Cam xinh đẹp nổi tiếng về tài đánh Mỹ, các khu xã đội Cam Thanh, Cam Thuỷ nhộn nhịp ăn tết sớm ở chiến khu để trong những ngày tết của dân tộc anh chị em sẽ có mặt ở nơi nguy hiểm và gian khổ nhất để bảo vệ nhân dân và sẵn sàng chớp lấy điều gì gọi là thời cơ mới.Những khóm lá hương bài tôi lấy từ khu Đông về, rễ chưa xao đã toả hương ngào ngạt, lần đầu tiên đã đưa lại cho tôi hương vị của ngày tết, nhưng nó cũng gợi trong lòng nỗi nhớ thương day dứt người mẹ già, nhớ thương day dứt mẹ con Hồng, Hùng, Hà.

TRỞ LẠI TRƯỜNG PHÁO THÂN YÊU

29/6/70

C

uối tháng 6 tôi được trên cho trở lại trường Sỹ quan Pháo binh dự khóa huấn luyện trung cao cấp chiến dịch. Một người bạn ở ban cán bộ cho biết sau khóa học tôi sẽ được bổ nhiệm tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 2 thay cho anh Thạnh vào chiến đấu ở Nam Bộ.

Vậy là sau hơn hai năm tôi lại được gặp thầy, gặp bạn ở trường Sỹ quan Pháo binh. Gặp lại thầy hiệu trưởng Nguyễn Khiếu vừa nghiêm khắc vừa hiền lành.

Gặp lại Phiếu Phệ, cái thằng đem bức thư tình cảm của cô diễn viên đoàn dân ca Liên khu Năm gửi cho tôi, báo cáo với cấp ủy, làm cho tôi phải kiểm điểm. Nào có gì đâu hai anh em gặp nhau ở bãi biển Sầm Sơn, trong một đêm diễn của đoàn. Lúc bấy giờ cô ấy trẻ, đẹp, diễn hay, trong mắt lính khác nào thần tượng. Còn tôi lúc bấy giờ cũng là sỹ quan trẻ có giá, mục tiêu nằm trong tầm mắt xanh của các cô diễn viên. Cô gái tưởng tôi chưa có gì nên viết thư tỏ tình xa xôi, thế mà chi bộ làm rùm beng.

Gặp lại Công Trứ cái thằng lém lỉnh, mà tôi đã sáng tác riêng một bài hát Tạch tạch đùng tặng nó và chơi phong cầm suốt buổi phục vụ đám cưới nó với Tâm.

Gặp lại Ngọc, Năng các giáo văn hóa mà tôi thường đệm phong cầm cho các cô hát đơn ca. Gặp lại Gấm, Bẹ… các cô cấp dưỡng quê Thái Bình từng đóng vai trong vở chèo Qua sông, sáng tác đầu tiên của tôi do đạo diễn Ngọc Trung nhà hát Chèo đạo diễn…

Mười hai năm trời làm giáo viên, vừa là đội trưởng văn công không chuyên của trường, với tôi biết bao kỷ niệm.

Cũng tại nơi đây, trong một chuyến diễn tập trên Trung Hà khi xe qua cầu Mỗ tôi đã nhìn thấy Duân, cô nông dân xinh đẹp của làng Ái Mỗ đang chăn bò gần cầu. Đi diễn tập về, tôi vào ngay làng Mỗ lùng sục tìm Duân, nhưng lại tìm nhầm phải Độ, cô bạn của Duân. Các cô gái làng Mỗ ngoại ô thị xã Sơn Tây đẹp, nhưng nhà rất nghèo. Nhà Độ nghèo đến nỗi phải ăn độn củ chuối. Hằng ngày các cô phải rồng rắn vào tận núi Ba Vì kiếm cỏ tế về để bán, để đun, vậy mà vẫn đẹp.  Rất may Độ đang còn vướng lớp học bổ túc công nông mở tại Văn Điển, chưa nôn nóng nghĩ đến việc chồng con, nên tôi đã kịp trở lại với Duân, người đẹp ban đầu, rồi hai người trở thành vợ chồng, mặc cho thiên hạ xầm xì: “Tay Hải dân thành phố tạch tach xè mà lấy Duân nông dân 100% chắc gì đã bền”.

Kính Báo:
ĐÃ NHẬN ĐƯỢC SÁCH “MÙA HÈ CHÁY” TỪ CHÍNH TÁC GIẢ ĐỀ TẶNG.

Chào các bạn mình vừa được chính tác giả: Đại Tá Nhà Văn Nguyễn Quý Hải chuyển tặng sách tại Sài Gòn – Sau khi đăng tin tìm sách khắp các nơi “gần 1 tháng” không hiểu sao lại đến tai nhà văn đại tá và ông ấy đã trực tiếp gọi ĐT từ Hà Nội thông báo cho mình đi nhận sách ….Ôi vô cùng cảm kích đến Đại Tá Nguyễn Quý Hải (tác giả Mùa Hè Cháy) đã có lòng quan tâm đến người tìm sách như tôi.

10-12-2009, 09:25 AM   #3

HungNhon

Sinh viên

Tham gia ngày: Jan 2006

Nơi Cư Ngụ: SaiGon SRV

Hai ngày hai cú điện thoại xúc động
*Ngày 1 tháng 3 năm 2011 cũng buổi trưa, một cú tin nhắn điện thoại làm tôi thức giấc. Tôi mở xem tin, đó là lời hỏi thăm sức khỏe của một độc giả hâm mộ Mùa hè cháy. Tôi không thể nhớ được đó là ai,vì có một số người gọi tới hỏi về cuốn nhật ký chiến tranh Mùa hè cháy, có người từ trong thành phố Hồ Chí Minh gọi ra như anh Hùng Nhơn, có người đến tận nhà như anh Mai văn Tiêm. Tôi bật máy gọi lại hỏi thì ra đó là anh Đòi, Đòi ở Hải Phòng 0988590219, người đã mua cuốn nhật ký của tôi tại thành Cổ Quảng Trị. Anh đã đọc kỹ, hy vọng tìm ra được tin tức của người anh trai cũng chiến đấu phối hợp với sư đoàn 304 trong trận đánh căn cứ Phượng Hoàng, Ái Tử năm 1972

Tôi đã bỏ thời gian tìm trên bản đồ và nhật ký còn lưu giữ nhưng không giúp anh được điều anh mong muốn. Nhiều người chiến sỹ đồng đội của tôi hy sinh tại đây.

Hôm nay nhân đọc lại nhật ký anh lại gọi điện cho tôi. Anh nói anh không thể tưởng tượng được cuốn nhật ký của tôi lại cuốn hút và gây xúc động cho anh đến thế. Làm sao mà tác giả có thể nhớ được những chi tiết sống động trong một cuộc chiến vô cùng ác liệt như thế. Anh nói rằng đọc nhật ký Mùa hè cháy của tôi anh thấy Tổ quốc Việt Nam ở trong đó. Câu nói của anh làm tôi xúc động đến gai người.

Sang ngày 2 tháng 3 năm 2011 lại một cú điện làm tôi xúc động đến gai người. Không phải cú điện ở trong nước nói về cuốn nhật ký Mùa hè cháy mà là cú điện từ nước Đức xa xôi của một tùy viên quân sự Việt Nam. Anh thông báo có một sỹ quan quân đội Đức, rất thích môn cờ Tư lệnh mà tôi mới sáng tác. Anh ta muốn sang Việt Nam trực tiếp gặp tác giả nhưng chưa có điều kiện, anh muốn phỏng vấn tôi qua hòm thư điện tử. Tôi đồng ý. Đồng chí tùy viên còn cho biết ông ta có ý định muốn tổ chức một đội của quân đội Đức đấu môn “cờ tư lệnh” của tôi với quân đội Việt Nam.

Tôi vội thông báo điều này với trên. Tôi chờ đợi. Liệu điều đó có thành sự thật hay không? Dù sao tôi cũng thấy rất mừng vì cánh bay của cờ tư lệnh đã vượt qua biên giới.

SẴN SÀNG HỎA LỰC CHO

NHỮNG TRẬN ĐÁNH HIỆP ĐỒNG

BINH CHỦNG LỚN

26/11/70

S

áu tháng dự huấn luyện khóa trung cao pháo binh cấp chiến dịch, cũng là sáu tháng tôi được ở gần nhà, được gần mẹ con Hồng, Hùng, Hà. Hằng tuần vào chiều thứ bảy tôi lại cùng các bạn phóng xe đạp vượt bốn mươi kilômét để về với vợ con ở thị xã Hà Đông, để phụ đạo cho cô giáo tiểu học của tôi ít bài toán.

Nhưng đã đến lúc phải chia tay với bạn bè, với gia đình. Lệnh trung đoàn, chậm nhất ngày 29 tôi phải có mặt ở đơn vị.

Trưa 25 tôi đi tàu điện từ thị xã Hà Đông ra ga Hàng Cỏ. Bà chị gái thân yêu chuẩn bị cho tôi một cân bánh mỳ bốn chiếc. Tôi xin của bố hai quả cam. Chiếc ba lô cóc cũ kỹ, mấy túi bên ngoài đã bị chuột gặm thủng lỗ chỗ, lại có dịp đầy ắp. Thực ra trong chỉ có hai bộ quần áo, cái chăn bông vỏ đã bạc trắng mỏng dính, cái tăng rách, cái võng bạt và bánh mì. Thật là giản dị. Người chiến sỹ cách mạng lên đường đi chiến đấu, trăm núi ngàn sông chỉ có thế.

Ga hàng cỏ đông nghịt người như chợ phiên, hầu như quanh năm như vậy. Mấy năm nay số người khoác áo chiến sỹ ngày càng đông. Tiểu đoàn trưởng Thạnh trông thấy tôi, anh chạy lại hồ hởi bắt tay. Sáu tháng xa nhau giờ gặp lại. Anh được về phép để chuẩn bị rời tiểu đoàn đi chiến đấu ở chiến trường miền Đông. Nga vợ anh cũng ra tiễn chồng.

– Lại bằng không rồi – Thạnh nói nhỏ với tôi.

Tôi cười thông cảm, chị Nga cũng hiểu và lắc đầu. Người con gái Việt Nam thật vất vả gian khổ. Xa chồng, xa lắc xa lơ. Có may mắn lắm hàng năm mới được về một vài tuần. Ngót bốn mươi tuổi rồi mà không biết đường con cái. Nét khắc khổ hiện rõ trên gương mặt của cô kỹ sư già ấy.

Tôi, Thạnh, Thưởng ngồi trên cùng một toa. Toa ghế dọc, hai hàng hai bên. Con tàu suốt đưa chúng tôi vào miền trung của Tổ quốc. Đường số một, động mạch của cả nước chạy ngược mãi về hậu phương. Những cánh đồng mười tấn xa dần, những dãy núi đá trùng trùng gần lại.

Tàu chúng tôi đến ga Nam Định. Điện đã lên đèn. Cửa ga như một khe nhỏ, hành khách như con nước ùa vào, dâng lên ngập ngụa, rồi dốc lòng cạn khô vắng tanh không còn một bóng người, chỉ còn trơ chọi ngọn đèn điện đỏ quạch tỏa bóng hàng lan can xuống thềm xi măng sân ga.

Còi tàu rúc một hồi kéo dài rồi chấm dứt bằng một tiếng còi lanh lảnh cao vút sắc buốt. Tàu bắt đầu chuyển bánh. Một cặp vợ chồng bịn rịn vương vấn mãi giờ mới chia tay nhảy theo tàu. Mấy cô bán mía vẫn cố chạy bám theo trao những tấm mía cuối cùng cho khách qua ô cửa sổ và tiền được ném trở lại.

Con tàu biến vào sương đêm cuối tháng. Tàu phòng không, toa không có điện, thỉnh thoảng những chớp hồng của diêm, của bật lửa lóe lên. Ngọn thuốc lá đây đó lát lát hồng lên đủ soi tới đôi quầng mắt lim dim của một người nào gần đó. Từng góc, từng góc vẫn thầm thì tiếng chuyện trò hòa lẫn tiếng xe lăn trên đường ray.

Càng về khuya tàu càng tăng tốc. Đã qua Non Nước, Ninh Bình. Vùng này núi đá nối nhau chạy dài tới tận Thanh Hóa. Năm 1964 hai vợ chồng và con gái đầu lòng của tôi khi về Sầm Sơn nghỉ mát đã có dịp thưởng thức cảnh đẹp ở đây. Hồi tưởng lại những ngày thanh bình tươi đẹp đó. Đã sáu bảy năm rồi. Khó mà tưởng tượng được Sầm Sơn ngày nay còn những gì sau những ngày chiến tranh tàn phá đẫm máu. Và ngày nào nhỉ, liệu bao nhiêu chuyến đi như thế này nữa để giành lại được những ngày hạnh phúc đó.

Tôi chợp đi lúc nào không biết. Tàu vòng vào cua Hàm Rồng, đi chậm lại, các toa xô nhau giật cục. Tôi tỉnh dậy. Gió sông Mã ùa vào cửa sổ. Cái lạnh làm tôi cảm giác rất nhạy một cái gì đè nặng và nóng ran trên cánh tay tôi. Gió tung làn tóc xòa vào mặt tôi. Chà một người đàn bà. Tôi lắng nghe hơi thở và lợi dụng ánh điện trên thành cầu Hàm Rồng để xem người đó già hay trẻ, bà hay cô.

Thì cứ cho là cô đi, vì hơi thở còn nóng lắm. Cô ta ngủ say, tuổi ăn tuổi ngủ mà. Quả thật tôi cũng hơi mỏi nhưng không nỡ đánh thức cô ta dậy. Chắc là cô ta về xa.

Cầu Hàm Rồng đã được sửa lại khá tốt nhưng vết thương chiến tranh vẫn để lại sẹo trên mình. Nhìn những nhịp cầu vững chắc hiên ngang và những công nhân ngày đêm đứng đó tôi đã hiểu vì sao Hàm Rồng đã đi vào lịch sử  như một huyền thoại.

Đã đến Thanh Hóa. Tôi nâng đôi má nóng bỏng của cô gái và nhắc khéo

– Cô xuống ga nào, Thanh Hóa rồi đó.

Cô nói nhẹ

– Em xuống Vinh.

Cô lại định gục xuống ngủ, nhưng tôi đã kịp xoay thế ngồi và mời cô ăn cam.

Đồng chí kiểm soát vé cầm chiếc đèn ló đi dọc qua toa. Trong ánh đèn đỏ tôi nhìn cô gái giữa lúc cô cũng tranh thủ nhìn tôi và rồi lại tối mịt.

Qua câu chuyện tôi được biết cô là nữ hộ sinh của một trạm đỡ đẻ. Cô ra Hà Nội sắm dụng cụ. Đúng thế, hành lý của cô có cả một cái thau to và một tay nải bông băng, tã lót. Xã cô ở ngoại thành của Vinh cách vài cây số gì đó. Tôi có hỏi tên cô và tên xã nhưng lại quên mất.

3 giờ sáng ngày 26 tàu đến ga chót thành phố Vinh. Bác công nhân bẻ ghi đã đưa đoàn tàu vào đúng vị trí. Tàu dừng, chỉ một lát sân ga trơ lại đoàn tầu trống rỗng, tối om và chìm đắm trong giắc ngủ mệt nhọc sau một chuyến đi dài.

Từ cửa ga hành khách tỏa ra các ngả. Con đường đi tới bến ô tô Đồng Hới đông hơn cả. Cô bạn đường của tôi không hiểu đã rẽ đường nào và tự bao giờ. Bến ô tô nhộn nhịp hẳn lên khi khách tầu về. Tiếng gọi nhau í ới hỏi thăm tình hình xe cộ, giờ bán vé, nơi ghi tên. Nhiều người xếp hàng sẵn nằm la liệt trước cửa buồng vé

Tơ mơ sáng, xe liên vận Hà Nội-Đồng Hới đã đến bến, một vài đồng chí mua lại được vé. Tôi không may, nhưng dẫu có mua được vé, cũng phải chờ một ngày.

Trời đã sáng rõ. Bến xe đã gọi loa yêu cầu sơ tán. Cách đây vài tuần cùng với vụ tập kích vào trại giam Sơn Tây địch đã oanh tạc dọc đường số một từ Hà Tĩnh trở vào.

9 giờ, xe đã lấy khách xong và rời bến. Khách đã sơ tán. Tôi vẫn kiên trì đứng dọc đường vẫy xe tải. Sự kiên trì mà tôi đã có dịp rèn luyện nhiều thời kỳ đón xe chiều thứ bẩy hằng tuần để về thị xã Hà Đông. Và một lần nữa trong lúc khó khăn nhất, tôi lại gặp may. Tôi xin được xe đi thẳng tới Kỳ Anh và ngay chiều hôm đó tôi đã tới trung đoàn.

Trước mắt tôi đất Kỳ Anh đã hiện ra với con đường đất rộng chạy từ Huyện lỵ qua Kỳ Lâm nối từ đường số 1 tới đường 15, với những con dốc nhỏ và những o buôn quýt từ mạn rừng về huyện nổi tiếng xinh đẹp.

29/11/70

Tôi về tới tiểu đoàn vào lúc tiểu đoàn mới kiểm tra chiến thuật xong. Đại Đội 6, Đại Đội 5 đạt tiêu chuẩn khá. Toàn tiểu đoàn đạt khá. Trung đoàn quyết định cho tiểu đoàn được bắn đạn thật.

Cuộc bắn đạn thật năm nay một phần là để đánh giá kết quả huấn luyện sau một năm, một phần có ý nghĩa hết sức quan trọng, chính là để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu quy mô lớn sắp tới.

Sau vụ trực thăng đổ bộ thẳng đứng tập kích vào trại giam giặc lái ở thị xã Sơn Tây, tình hình trở nên căng thẳng, vì bản thân vụ đó xảy ra ở ngay cửa ngõ thủ đô, xảy ra cùng một lúc với vài vụ như vậy ở một số nơi. Đồng thời hạm đội 7 cũng nhích lại gần bờ biển miền bắc. Dư luận về một cuộc tấn công hạn chế bằng bộ binh ra quân khu 4, khu vực nam sông Gianh được coi là một khả năng tương đối rõ.

Quân khu 4, những ngày này cuộc sống lại chuyển tới bên bờ chiến hào. Mấy ngày trước tiểu đoàn đã đào xong trận địa ở Quảng Trạch. Và lần này bắn đạn thật lấy khu điểm cao bắn là đèo Ngang, ven quốc lộ số 1 làm trường bắn, không phải là không có ý đồ chiến thuật.

Xe chỉ huy đưa chúng tôi đến khu lâm trường, trại tăng gia của trung đoàn cao xạ 218. Nơi đây là ranh giới phía nam của khu vực bắn đạn thật. Trời mới mưa, con đường đất  từ đường 1 rẽ vào trại rải rác những ổ gà đầy nước. Những đoạn dốc, vệt xe đi lại bị nước xói thành những khe sâu hoắm. Xe phải rẽ vào những tràn cỏ ven đường để tránh những bãi lầy nguy hiểm. Xe của đoàn trưởng Cao Sơn bị sa lầy, tiếp theo là xe của tham mưu. Chúng tôi đành bỏ xe lại để đi bộ, và ngay sau khi tổ chức xong nơi ăn ở tại lâm trường, chúng tôi đã lên đài quan sát để trinh sát khu vực mục tiêu.

Đài quan sát ở lưng chừng núi, dưới gốc một cây to. Ở đây  các sỹ quan chỉ huy có thể nhìn được toàn bộ khu vực bắc Đèo Ngang, từ dãy núi tiếp giáp qua đường 1 chạy tới biển.

Trời có hửng lên đôi chút nhưng hơi nước bốc lên mù mịt. Các vật chuẩn rất khó quan sát. Lô cốt trên điểm cao như cái bụi nhỏ xíu lẩn ở đường chân trời. Tuy nhiên các địa vật lớn, các giải quan sát, các đoạn bắn chúng tôi cũng đã nắm được một phần. Điểm đáng lo là nếu thời tiết cứ như thế này kéo dài đến ngày mai.

Cuộc bắn đạn thật đã phải dừng lại ba ngày. Trời hửng. Hành quân. Công sự đã hoàn thành. Trung đoàn yêu cầu chuẩn bị gấp, không thể chần chừ ngày nào nữa. Ngay buổi chiều tôi đã từ đài quan sát về khu trận địa quanh điểm cao không tên ở xã Kiều Hoa. Từ ngã ba, đoàn xe kéo pháo nối đuôi nhau vào chiếm lĩnh trận địa.

Cảnh tượng thật hoành tráng. Trong ánh đèn xanh phòng không, trong tiếng gầm của máy lẫn tiếng xích rung cả mặt đường, những bóng đen của xe pháo được ngụy trang lừng lững như những quả núi chuyển động qua mặt tôi.

Từng đại đội đã chiếm lĩnh đúng kế hoạch. Mọi công tác chuẩn bị được tiến hành ngay trong đêm. Chỉ huy sở đặt ở trong một rừng phi lao cây còn non, bên trái cùng của đội hình chiến đấu. Đại đội 7 tiểu đoàn 3 cũng được tham gia bắn. Hai đại đôi cao xạ của tiểu đoàn 1 cũng đã có mặt  và triển khai bảo vệ pháo mặt đất.

23 giờ chúng tôi đi kiểm tra trận địa. Hầu hết đã ổn định và hoàn thành công tác chuẩn bị. Đại đội 6 có gặp khó khăn đôi chút, phải chiếm lĩnh lại một khẩu.

Về tới sở chỉ huy lúc một giờ sáng. Những chiếc võng nặng vít cong cả thân phi lao đang đung đưa nhẹ theo gió. Những tiếng ngáy đều đặn của các chiến sỹ trinh sát, thông tin ấm cúng và trìu mến.

Tơ mơ sáng bộ đội đã dậy ngụy trang lại trận địa, kiểm tra hướng chuẩn và thiết bị cho pháo. Sương mù vẫn dày đặc. 7 giờ, 8 giờ, 9 giờ vẫn dày dăc. Dẫy đồi phía tây không xa bao nhiêu mà nom như ảo ảnh.

Máy bay địch nghe như  F105 lượn trên vùng trời Kỳ Anh một vòng rộng rồi đi thẳng.

Trên đài quan sát vẫn báo về trời mù. Kiên trì chờ đợi. Thời tiết ở vùng tây bắc Đèo Ngang, lúc nào cũng như đang còn vương vương hồn thơ của Bà Huyện Thanh Quan  “…Lom khom dưới núi tiều vài chú. Lác đác bên sông chợ mấy nhà…”.

Cuối cùng điện của Bộ Tư Lệnh quyết định cứ bắn, nhưng mục đích bắn được thay đổi. Không bắn kiểm tra sai số sơ tốc mà bắn để kiểm nghiệm pháo, đạn và sơ bộ nhận xét mức chính xác. Phương án bắn rất gọn. Mỗi khẩu đội bắn hai phát. Đại đội bắn 8 phát chia làm 2 loạt, không sửa bắn.

Xế chiều cuộc bắn được tiến hành nhanh gọn, chỉ trong vòng 30 phút. Các trận địa nhanh chóng thu pháo, thu dây thông tin. Kết quả quan sát từ trên đài báo về đạn rơi tốt phù hợp với kết quả thực tế bộ phận đi đo hố đạn rơi. Mặc đầu chỉ sửa khí tượng, không có tài liệu về sơ tốc, các cụm đạn đều trùm mục tiêu ngay từ loạt đạn đầu, anh em rất phấn khởi.

3/1/71..

Sau nửa năm lui về tuyến sau huấn luyện chiến đấu theo một giáo trình mới đáp ứng yêu cầu đánh lớn, đánh tập trung hiệp đồng binh chủng trong một chiến dịch tấn công, chiến dịch kép, đại đội 5, đại đội 6 trở lại mảnh đất Vĩnh Linh.

Qua mùa mưa lũ, những con đường cơ động quen thuộc của pháo đã thay đổi khá nhiều. Nước xói mòn đào những hố sâu trên mặt đường. Cây cỏ mọc lan phủ kín. Con đường trước kia xe xích vẫn cơ động nay chỉ còn là một vệt đường mòn.

Trận địa đại đội 5 ở Bãi Mít, những ống thuốc phóng còn vàng óng nước mạ ngổn ngang, những mảnh bom đạn, hố lưỡi cày của pháo, vệt bánh xe và những vết sẹo hằn trên từng gốc cây rừng gợi lại cho mỗi người những trận đánh kỳ diệu của mấy năm trước. Có đồng chí còn nhận ra nơi chiếc máy bay L19 rơi chỉ sau một điểm xạ, nơi mảnh đuy-ra của chiếc máy bay OV10 bị các chiến sỹ cao xạ bắn tan xác.

Ngọn đồi các chiến sỹ cao xạ 85 của trung đoàn 218 hiên ngang đánh cả máy bay Mỹ trên trời lẫn giặc Mỹ ở mặt đất. Đạn các đồng chí bắn sang cứ ngang tầm Cồn Tiên thì nổ. Mảnh đạn nổ trùm xuống đầu giặc như ca-nông chơm. Nỗi khủng khiếp của quân Mỹ những ngày chúng bị vây ở Cồn Tiên.

Những chiến công oanh liệt của pháo binh và cao xạ đường 9 làm cho bộ binh tin tưởng, quân Mỹ khiếp sợ. Gio An, Đông Hà, Cồn Tiên, 241… đi vào lịch sử với những chiến công của Lực lượng vũ trang Nhân dân Giải phóng mặt trận Quảng Trị.

Tới đội 2 trời tối xẩm nhưng chiến sỹ lái xe vẫn không chịu bật đèn. Ngồi trong các bin mọi người căng mắt, có lúc mờ đi không thấy đường vậy mà xe vẫn đi, vẫn đi. Tới gần Bãi Hà, xe mới bật đèn gầm. Qua ngã ba 54 xe tạt trái vào đường 42, con đường lịch sử của những năm 67, 68. Giờ đây lau lách đã trùm lên nửa mặt đường. Xe vẫn đi, lau lách che kín cả khung cửa xe đến nỗi bật pha lên mà vẫn không nom thấy mặt đường.

Tiếng máy ào ào nhức nhối. Thỉnh thoảng ga phụt mạnh tức tối nổ như tiếng súng, lửa phụt ra từ những ống xả như hoa. Bên khung cửa phía nam những ánh chớp màu hồng lát lát lại bùng lên loá mắt. Bom đạn vẫn quanh đâu đó, nhưng tiếng máy át tiếng bom, chiến sỹ lái xe chỉ biết tập trung tuyệt đối vào đôi tay lái. Các đồng chí không chỉ lái bằng tay lái mà còn lái bằng đầu.

Xe tới trận địa. Đường vào trận địa chỉ là một vệt mòn lau sậy cao ngang ngực vậy mà Toán, Hồng cứ lao đi dẫn đường cho xe. Xe nhằm ánh đèn pin mà bám, có chỗ chỉ cách người dẫn đường không đầy hai mét, nếu người dẫn đường vấp ngã thì lập tức bị xe xích nghiền nát.

Tết sắp đến, một mùa xuân mới lại đến với những hy vọng mới. Giờ này Duân và các con Hồng, Hùng, Hà ở Hà Nội chắc cũng đang bận rộn lo cái tết. Lo chè kho, bánh chưng đã đành, nhưng còn bao nhiêu nỗi lo khác. Liệu mấy ngày tết không quân Mỹ và Nguỵ quyền Sài Gòn có để cho gia đình ở hai miền được ăn tết bình an và vui vẻ không. Liệu mấy ngày tết ở mặt trận bọn địch có ngừng bắn để cho tiểu đoàn được ăn tết không.

17/1/71

Vào những ngày này cứ của tiểu đoàn nhộn nhịp. Từ sở chỉ huy tiểu đoàn đến các đơn vị mọi người gấp rút chuẩn bị thật chu đáo cho trận diễn tập chiến đấu. Đồng chí Kim Tuấn sư trưởng bộ binh đến tận trận địa pháo để thăm và tìm hiểu thêm về những cỗ pháo lớn sẽ trực tiếp chi viện cho sư đoàn. Đồng chí chỉ thị phải chuẩn bị cho trận địa pháo sao có thể sẵn sàng chuyển hướng bắn từ bắn biển sang bắn bộ binh địch nếu chúng đổ bộ lên khu vực nam sông Gianh, hoặc từ bắn biển có thể chuyển hướng bắn đánh trả vào mục tiêu Dốc Miếu, Cồn Tiên nếu chúng pháo kích ra bờ Bắc

18g30 các cán bộ tiểu đoàn lên trung đoàn nhận lệnh tác chiến chính thức.

Ngay sau hai tiếng từ khi có lệnh chính thức, Chí từ trên đài quan sát đã báo về chỉ huy sở tọa độ đài quan sát. Lập tức Hạp kế toán viên xuất sắc thao tác trên bàn đạc biển tìm ra phần tử bắn, dưới sự chỉ huy luyện tập của đại đội trưởng Ân.

18/1/70

Trung đoàn trưởng Cao Sơn lệnh cho trận địa báo động chiến đấu. Tình huống kiểm tra giả định Mỹ Nguỵ đổ bộ lên đỉnh đèo Ngang. Đoạn T68 ngã ba đỉnh đèo Ngang được quyết định bắn. Pháo đang từ  hướng bắn biển 18-00 theo lệnh tiểu đoàn đã nhanh chóng chuyển sang đánh địch mặt đất ở hướng 8-00.

Hai phút sau khi có lệnh, sở chỉ huy tiểu đoàn đã báo phần tử bắn xuống trận địa. Chỉ trong 35 phút toàn trận địa đại đội 4 dưới sự chỉ huy của đại đội phó Tiến đã chuyển hướng xong và chấp hành lệnh bắn. Sư trưởng cho độ lệch xa 170 lệch trái 0-50. Hai mươi giây sau có phần tử sửa bắn ngay: Góc tầm giảm 9 sang phải 0-50. Lúc đầu sư trưởng nhìn trung đoàn trưởng tỏ vẻ chưa tin “Sao sửa hướng lớn thế”, nhưng ngay sau đó được trợ lý tham mưu lý giải, sư trưởng đã công nhận và khen tiểu đoàn xử lý đạn nhanh, chính xác.

Từ trên điểm cao 80, nghe tiếng hô khẩu lệnh của anh em pháo thủ dõng dạc, đầy khí thế tôi thấy vững dạ. Niềm tin của tôi vào chiến thắng trận đầu đã có cơ sở. Cách đây một tuần, năm pháo thủ nhỏ bé, với trọng lượng pháo nặng hàng tấn, chuyển hướng lớn như vậy có khẩu đội phải di càng, thiết bị mất tới ba tiếng, bây giờ toàn đại đội chỉ mất 35 phút. Nổi bật là Bê, cái cậu gọi mẹ ầm lên trong đêm hành quân đầu tiên, người bé nhưng ăn to, nói lớn. Trong lượng người chưa đến nửa tạ mà nạp những quả đạn nửa tạ ngon như không. Vừa nạp Bê vừa hô: Khẩu đội 1, 1 phát nạp đạn xong!

Những xe đạn đầu tiên của mặt trận cũng đã chuyển tới trận địa đại đội 4. Các chiến sỹ của tiểu đoàn bộ kể cả lái xe, y tá, anh nuôi và một số pháo thủ của đại đội 6 cũng được huy động ra chuyển đạn vào công sự. Trước mắt mỗi khẩu đội phải sẵn sàng một cơ số. Ở tiểu đoàn dự trữ một cơ số. Trung đoàn dự trữ hai cơ số. Nghĩa là mỗi khẩu phải luôn sẵn sàng có lượng đạn 320 viên để chiến đấu. Mỗi viên nặng ngót năm mươi kilôgam. Riêng khu Đèo Ngang đã có trọn một trung đoàn pháo dự bị chi viện hoả lực chồng lên nhau ở các chốt, các điểm cao, các bãi đổ bộ.

Đoàn xe tăng lội nước 32 tấn hiện đại với những nòng pháo vươn dài cũng đang nỗ lực luyện tập. Đêm đêm những tiếng pháo vang trời của các đồng chí trên trường bắn trả lời những đợt pháo kích điên cuồng của giặc Mỹ bên kia bờ Bến Hải.

30/3/71

Tiểu đoàn vừa trải qua một cái tết, một mùa xuân sẵn sàng chiến đấu cao. Vậy là tôi đã hiểu vì sao đồng chí sư trưởng bộ binh và trung đoàn trưởng Cao Sơn lại về tận trận địa pháo của đại đội 4 để kiểm tra. Khi đầu có tin là địch sẽ đổ bộ ra Đèo Ngang với mục đích cắt đường chi viện của hậu phương miền Bắc với  miền Nam, nhưng địch đã không dám liều lĩnh. Chúng đã chuyển sang tấn cống Sêpôn, Hạ Lào nhằm cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh, nhưng chúng đã thất bại thảm hại.

Đến ngày thứ 25 của cuộc hành quân, “đại binh Sài Gòn” đã bị đánh tan nát trong các cuộc đổ quân liều lĩnh xuống gần Sêpôn. Và sau 44 ngày  với con số thương vong cao tới 8.000 người, chiến dịch Lam Sơn 719 đã chính thức kết thúc.

Cựu tư lệnh Mỹ ở Sài Gòn, tướng Oét-mo-len được Kít-xin-gơ tham vấn về tình hình chiến trận khi đó, đã nhận định phải có ít nhất 4 sư đoàn Mỹ mới chiếm và giữ được Sêpôn, chứ 2 sư đoàn Sài Gòn thì không thể kham nổi?

Vậy là ba năm sau tết Mậu Thân, Thiệu lại cho đốt pháo dịp Tết nguyên đán Tân Hợi 1971, để chứng tỏ sức mạnh của quân đội Việt Nam Cộng hoà trên chiến trường, để tạo niềm tin cho chủ trương “Việt Nam hoá chiến tranh” của Ních Xơn, để có cơ hội tăng quân nguỵ lên tới một triệu người và được Mỹ viện trợ hàng triệu vũ khí, cùng 46.000 xe quân sự, 1.100 máy bay các loại…

2/4/71

Cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược đã kéo dài mười sáu năm. Sau ba năm tổng tiến công nổi dậy đồng loạt, lực lượng vũ trang giải phóng đã lớn lên và vững vàng trên thế đứng chiến lược. Địch càng ngoan cố càng thất bại. Nhân dân Mỹ đã đứng lên đòi Mỹ rút quân về nước. Trước những cuộc tiến công liên tiếp trong suốt bốn mùa trên khắp các địa bàn chiến lược đế quốc Mỹ đã thua càng thua đậm buộc phải xuống thang.

Biết tin phó chính uỷ lực lựơng pháo binh Thạch Tâm tới thăm, nhiều cán bộ ở đơn vị lên tiểu đoàn đề nghị tôi mời phó chính uỷ nói chuyện. Tất nhiên là tôi cũng rất muốn được nghe chính uỷ nói chuyện. Không chỉ là vì chính uỷ nói chuyện thời sự rất có duyên, lại dí dỏm mà còn vì sau mỗi lần được nghe tự tôi rút ra được nhiều điều cho chính bản thân mình.

Lần này phó chính uỷ không cần cài mấy mẩu hài hước của lính vào câu chuyện mà vẫn cuốn hút. Tôi không thể nào quên và thật tâm đắc: “ Chúng ta không thể chỉ đánh Mỹ bằng những trận cỡ nhỏ, vừa với lực lượng nhỏ hiệu xuất cao như mấy năm vừa qua. Chúng ta còn phải đánh địch bằng lối đánh ồ ạt nữa chứ.  Phải tiêu diệt hàng trung, lữ, sư đoàn của nó nữa chứ. Phải đánh nó bằng pháo cơ giới, bằng xe tăng, bằng cả máy bay ném bom nữa chứ. Phải tiêu diệt sinh lực và giải phóng đất đai rộng lớn ngay cả ở Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng nữa chứ… “

Cái điệp khúc nữa chứ, nữa chứ đã thực sự hút hồn tôi, đã phả ngọn lửa chiến đấu và ý chí quyết thắng cho mỗi cán bộ chiến sỹ trong toàn trung đoàn.

…/8/71

Trần Văn Hoàng đi nhận pháo 130mm mới toanh từ Phúc Rồng, Thái Nguyên đã trở về. Một chuyến đi thật gian khổ với anh. Điểm nhận pháo chỉ có một chiếc ke để chuyển xe pháo lên tầu. Mỗi lần bốn toa. Mỗi toa một xe một pháo. Lái xe đi trên toa tầu thần kinh phải thật vững. Người chỉ huy xi nhan không chuẩn có thể gây nguy hiểm cho xe pháo. Hoàng vừa xi nhan vừa lùi, anh bị bước hụt xuống đường ray, may mà chỉ đập lưng xuống. Lên tàu đã vậy, xuống tàu càng khó khăn hơn vì ở ga Vinh không có ke. Pháo phải tời xuống, còn xe xích phải cố định một bên xích, cho xe quay ngang để xuống sân ga.

Từ ga Vinh, một chặng đường bộ với những cầu phà biết bao nguy hiểm nhưng xe pháo mới đã đến được Vĩnh Linh an toàn. Tiểu đoàn nhận pháo mới tiến hành hiệu chỉnh kỹ thuật ngay. Pháo canon D74 của tiểu đoàn trao cho đơn vị pháo của B2 để vượt Trường Sơn vào Tây Nguyên và đông Nam bộ.

Trung đoàn đã chuẩn bị xe pháo cho đơn vị tham gia chiến dịch với  tỷ lệ 1,5. Vậy là Bộ Tư lệnh Pháo cũng đã lường trước tính chất ác liệt của chiến dịch. Lượng xe pháo trang bị khí tài được cất giấu ở kho Thị Ve, sẵn sàng bổ xung cho đơn vị trong tác chiến.

Mọi công tác chuẩn bị cho chiến dịch từ tư tưởng ý chí, chiến kỹ thuật đến trang bị cơ sở vật chất lương thực đạn dược… đã được chuẩn bị khá chu đáo.

QUẢNG TRỊ MÙA HÈ CHÁY NĂM 1972

CHIẾN DỊCH HỎA LỰC LỚN NHẤT

VÀ CHƯA TỪNG CÓ TRONG

CHIẾN TRANH Ở VIỆT NAM

17/12/71

S

au khi cùng chính trị viên Hướng đi nhận lệnh ở sở chỉ huy trung đoàn và tham gia họp thường vụ đảng ủy tiểu đoàn để quán triệt sâu hơn nhiệm vụ chiến đấu, tôi lập tức chuẩn bị kế hoạch tác chiến và ngay buổi chiều đã phổ biến cho các cán bộ chỉ huy từ cấp đại đội trở lên trên sa bàn. Điều tôi muốn quán triệt sâu sắc tới anh em là cách đánh. Tôi muốn mọi cán bộ chỉ huy của đơn vị phải nắm chắc cách đánh lần này, bởi nó sẽ khác hẳn những lần trước. Không phải đánh để bảo vệ vùng đất Vĩnh Linh, cũng không phải đánh để trả đũa mỗi lần B52 rải thảm ở miền Bắc mà là một chiến dịch tiến công trong đó pháo binh là hỏa lực chủ yếu, có nhiệm vụ hợp đồng chi viện cho binh chủng hợp thành tiêu diệt từng cứ điểm, từng cụm cứ điểm tiến tới tiêu diệt và làm chủ hoàn toàn địa bàn tỉnh Quảng Trị.

Tôi nhấn mạnh ý nghĩa chiến lược của chiến dịch tiến công. Thắng lợi của nó không dừng lại ở lĩnh vực quân sự mà còn bao hàm ý nghĩa chính trị ngoại giao lớn, thể hiện được sức mạnh của chiến tranh nhân dân, của chiến tranh bảo vệ tổ quốc, vì vậy nhất định phải đánh thắng.

Dầu cho Mỹ Nguỵ sử dụng bộ máy chiến tranh khổng lồ với một phần tư tổng lực lượng máy bay chiến lược B52, một phần ba lực lượng hải quân của Thái Bình Dương như hiện nay thì với ta, lực lượng pháo binh mặt đất vẫn là hoả lực chủ yếu. Vậy thì pháo binh phải đánh như thế nào. Tôi phân tích cho cán bộ cấp dưới thấy được mấy đặc điểm quan trọng nhất của pháo binh trong chiến đấu tập trung hợp đồng binh chủng quy mô lớn. Đó là tính cơ động. Xe to pháo lớn đánh phát triển, không cơ động kịp thời thì sao có thể đánh hiệu quả được. Đó là tính chuẩn xác, chỉ cần sai một vài milimét là đạn pháo có thể đấm lưng bộ binh. Đó là tính mãnh liệt, hệ thống phòng thủ của địch khá kiên cố, hoả lực pháo bày của chúng rất mạnh nếu ta không bắn tập trung mãnh liệt tạo những cơn bão lửa dập xuống đầu chúng thì làm sao có thể chi viện hiệu quả cho bộ binh và tự bảo vệ mình được.

18/12/71

Bầu trời như khoác một cánh dù hoa. Những đám mây loang lổ đuổi nhau bay về phía Nam. Một dải nắng mỏng manh chạy lướt trên sườn núi còn mờ hơi sương và ướt đẫm lá rừng.

Cánh rừng thưa ven bãi trống nhộn nhịp, nghiêm trang. Mấy khẩu pháo đang được kiểm tra hiệu chỉnh kỹ thuật. Tiếng đóng mở khoá nòng đanh gọn. Một tốp pháo thủ đang thông nòng. Tiếng dao chặt cây làm dàn nguỵ trang, dàn chống bom bi nghe chí chát. Thỉnh thoảng tiếng máy xe xích nổ rung cả mái rừng. Từng tốp chiến sỹ đi lĩnh máy móc, khí tài, tăng võng bi đông, mũ sắt về qua bãi trống vội vã.

Phân đội trinh sát tập họp ngay ven đường đằng sau chiếc xe quân sự hai cầu. Phía trước là một chiếc xe xích lá nguỵ trang phủ trông như đường thêu viền quanh các khung cửa.

Trong đội ngũ các chiến sỹ trinh sát ngoài trợ lý Ngô Thịnh, trung đội trưởng chỉ huy Phạm Tiến, các sỹ quan trẻ người Hà Nội, còn có các gương mặt trẻ măng, thông minh của các chàng trai sinh viên đại học mỏ địa chất, đại học bách khoa mới bổ xung cho tiểu đoàn như Đỗ Thịnh, Cường, Chức, Học… Nhiệm vụ trinh sát đo đạc và chỉ huy pháo binh đòi hỏi các chiến sỹ phải có trình độ văn hóa cao, phải tính toán nhanh, chính xác để làm sao đạn pháo từ trận địa cỏ thể bắn trúng mục tiêu xa tới vài chục kilômét.

8g30 xuất phát.

Trận mưa cuối mùa tầm tã kéo dài một tuần lễ sớm nay đã ngớt. Qua Sà Ròn chúng tôi rẽ vào con đường quân sự làm gấp. Con đường treo trên vách núi. Lên một dốc cao tưởng là tới đỉnh, đi một thôi lại dốc cao hơn. Cứ thế, cứ thế chưa hết dốc này đã tới dốc khác. Đường xuyên giữa rừng đại ngàn, quanh co, quanh co. Cây cao vun vút, mây trắng mênh mông.

Chiếc xe gát chở chúng tôi vượt qua hết sườn dốc lại tới ngầm sâu, khi cheo leo trên vách núi, khi rẽ nước dưới lòng khe, rồi dừng lại ở ngã ba có mũi tên chỉ đường tới trạm T1. Anh em trong phân đội ngước cả lên đoạn đường cheo leo xe mới đi qua.

– Hành lang Trường Sơn vậy đó… Cốt là thần kinh vững – Thịnh nói.

Diện chuẩn úy lái xe im lặng không nói gì, anh lên xe mở máy đi tiếp. Xe vượt qua một khe nhỏ lại tiếp tục lên dốc. Bắt đầu từ ngã ba, mặt đường bùn nhầy nhụa. Hai vệt bánh xe chạy thành hai rãnh sâu hoắm. Đất đội cầu xe lên. Bánh xe quay trơn. Xe phải đi số một, phải cài cầu và số phụ liên tiếp. Gặp xe đi ngược chiều, lái xe muốn tránh cũng không thể đánh tay lái nổi. Các o dân công lập tức có mặt cùng bộ đội công bính sẻ rãnh lót đường. Thế thôi, nhưng không đơn giản, có khi xe phải tiến lên lùi lại hằng tiếng đồng hồ mới tránh được sang một bên. Đến cửa khe núi, đường bị cụt, xe quay ngang suýt nữa tụt xuống vực. Lái xe Diện mặt tím lại.

Mãi tới kilômét số 7 mới có xe ủi nạo bùn, mặt đường khá hơn một chút. Nhìn thấy xe chạy không, người đi bộ, ni lông quàng cổ, súng khoác vai, tay xách dép, quần áo lấm lem, lếch tha lếch thếch, mấy o dân công sửa đường lại vỗ tay hoan hô, thế có quấy không.

Diện tức mình nói:

– Này… Cứ đứng đấy mà hoan hô… Hết chiến dịch chưa chống lầy xong thì cứ gọi là ê sắc…

Một o đỏng đảnh đưa hai ngón tay kẹp cong lên bắt nhịp nguýt dài làm bộ đội cười vang cả rừng.  Chị em vừa cười vừa san đất. Xe lùi lại lấy đà rồi lao mạnh qua vũng lầy.

Càng gần tới trạm T1 càng gặp nhiều dân công. Các o vác đạn, gùi gạo và lương thực. Anh em sôi nổi hẳn lên. Một chiến sỹ không bỏ lỡ cơ hội lên tiếng “Hôm nay các o vác được mấy trái rồi?”. Các o vừa đua nhau trả lời vừa cười khúc khích “Bảy trái… Tám trái” Kỳ này pháo binh tha hồ bắn gấp nhé.

19/12/71.

Vậy là chỉ huy và các chiến sỹ trinh sát của trung đoàn đã vào mùa khô giữa lúc đường vào chiến dịch đang còn lầy lội. Nhiệm vụ của phân đội là nhanh chóng luồn rừng, leo núi chiếm lĩnh các đỉnh cao tạo một mạng lưới đo đạc để từ đó các trận địa pháo có cơ sở đo hướng bắn chuẩn xác, đồng thời xác định được toạ độ các mục tiêu trong hệ thống phòng thủ của địch, kể từ hàng rào điện tử Mác-na-ma-ra trở vào.

Kết quả trinh sát của các đồng chí chẳng những sẽ là cơ sở không thể thiếu được để kế toán tính toán phần tử bắn cho pháo mà còn là cơ sở tin cậy để Bộ Tư lệnh mặt trận đề ra phương án tác chiến và có quyết tâm sử dụng hoả lực chính xác.

Xe đã tới trạm T1, nơi tập trung các đoàn trinh sát của mặt trận. Cũng là nơi đi về của các o du kích Quảng Trị

Trạm T1 nằm dưới chân một con dốc khá sâu. Lán nọ như chồng lên lán kia. Tiếng cười rộn rã ở dưới thung, vui lên tận đỉnh dốc. Về chiều vòm trời phía tây cao và sáng hẳn lên. Một khoảng xanh đã hiện ra thấp thoáng trên những vòm cây cao chất ngất. Chim rừng ríu rít. Gió từ khe suối thoang thoảng bay lên lay động lá rừng. Đường bay của một tốp máy bay B52 nứt ra từng mảng lơ lửng lãng đãng, rồi giây lát nhoà đi trong cái lung linh xao động của nắng chiều.

17 giờ đoàn trinh sát binh chủng hợp thành tới khu vực kho M. Nơi nghỉ tạm của chúng tôi đêm nay là một khu lán nằm dưới chân dốc. Lán nọ như chồng lên lán kia. Dốc trơn như đổ mỡ. Dép đúc hảo hạng mới đi ngày đầu cũng đã quay ngang. Vai đeo nặng, chân dính bùn, chân cứ đòi đi trước dép. Hăng nhưng ẩu, mấy cậu chiến sỹ trẻ bị ngã toài xuống tận chân dốc.

Tôi và Dũng tiểu đoàn phó được ưu tiên nằm trong lán với cánh dân công. Lán xiêu vẹo úp lấy căn hầm nửa nổi nửa chìm. Bộ đội dân công ngồi trò chuyện bên bếp lửa. Bếp đỏ lửa suốt đêm, khói bạt hết muỗi. Người nằm nêm vào nhau. Đêm mưa mà ấm cúng. Tiếng hát thầm khoe mẽ của một o dân công nào đó, tiếng ngáy đều đều vô tư  của mấy chiến sỹ ngoài cánh võng và tiếng pháo kich đêm nghe ma quái từ Cam Lộ vọng tới. Tôi đã thiu thiu ngủ, bác dân công già vui tính vẫn còn sôi nổi.

– Chú thủ trưởng hề. Phải có một đôi dày vải. Nếu đi dép phải khâu đôi tất, gọn nhẹ, gọn nhẹ, đừng có tham… Ừ mà chú chưa có tất hề, để tôi biểu em Minh nó khâu cho. Con gái tui đó.

20/12/71

Để đảm bảo an toàn, từ vị trí tập trung thứ nhất, đến vị trí tập trung thứ hai, tất cả sẽ chuyển sang đi bộ theo trục đường mòn Q và trục đường mòn H. Đoàn trinh sát của pháo binh dự bị cũng chia đôi. Mặc dầu trời mưa trở lại, tổ trinh sát trận địa do tiểu đoàn phó Dũng phụ trách đã đi theo trục H từ sớm. Tổ trinh sát khu vực đài và mục tiêu do tôi phụ trách phải ở lại vì đường gặp lũ không đi được.

Một ngày chờ đợi ở đây lòng tôi như lửa đốt. Các chiến sỹ trẻ thì vẫn vô tư vì lũ lớn, đường tắc các chị em dân công cũng phải nghỉ lại.

Sớm hôm sau khi tôi giở kim chỉ ra định khâu đôi tất chống vắt thì con gái bác dân công già, một cô gái ưa nói bằng mắt nhiều hơn bằng lời đã giành ngay lấy đôi tất và ngồi khâu bằng xong cho tôi, lại còn tặng cho tôi cả đôi ghim băng. Con đường của o đang đi hôm nay chính là con đường mà người chồng thân yêu của o đã vào Quảng Trị mấy năm trước.

Suốt buổi sáng, căn lán ấm hơi lửa và tiếng cười. Niềm vui gì rộn rã trong lòng mà tiếng cười của bác dân công cao tuổi nhất ấy sảng khoái lạ.

Con rể bác hồi tết Mậu Thân đã tham gia tiến công vào Quảng Trị. Năm ngoái nó lại đánh Mỹ ở đó và bị hy sinh.. Con trai độc nhất của bác cũng đang chiến đấu tại đây. Bác và con gái bác vừa được tăng cường vào đội dân công tải đạn. Vậy là cả nhà bác ra trận. Bác chưa một lần đến Quảng Trị, vậy mà Quảng Trị với bác giờ đây đã trở nên gần gũi, gắn bó, có cái gì vừa day dứt lại vừa hể hả.

Bác kể là trước đây bác đã nói với bác gái  “Kỳ này bố con tôi đi tải đạn cho pháo binh, khi nào Quảng Trị giải phóng tôi mới về, bà đừng có mong”. Bác nói rộn cả lán, cái giọng miền trung đằm mặn mà ấm áp.

Đến trưa đoàn trinh sát của bộ binh, xe tăng, công binh cũng đã tới. Có bộ phận đêm mới tới đủ. Quân tướng đông, khí thế 1972 có khác, đủ cả từ cấp tiểu đội đến cấp sư đoàn, cùng các phân đội trinh sát, phân đội vệ binh đi theo.

Bộ binh trang bị gọn nhẹ. Tất ni lông dài tới đầu gối phòng được cả vắt. Từ khẩu tiểu liên, súng ngắn đến chiếc ống nhòm địa bàn của họ đều là loại mới nhất, tốt nhất, chẳng bù với pháo binh, cái gì cũng nặng nề cồng kềnh.

Buổi chiều, tôi và trung đoàn trưởng Cao Sơn được gặp và nói chuyện với sư đoàn trưởng Hoàng Đan, một cán bộ chỉ huy mà địch thường gọi với cái tên kính nể là Hùm xám Quảng Trị.

Càng về sáng trời càng mưa. Củi ướt, chiến sỹ nuôi quân phải cố gắng lắm mới có cơm chín cho bộ đội ăn để kịp hành quân. Tuy xuất phát đúng giờ, nhưng một vài chiến sỹ lúng túng. Có đồng chí tay còn cầm dép. Mũ rơi mấy lần. Có đồng chí chưa kịp đi tất. Trung đoàn trưởng cùng tôi kiểm tra chỉnh đốn cho từng đồng chí.

21/12/71

7g chúng tôi lên đường vào trinh sát khu vực mục tiêu. Đi theo vệt đường xe một đoạn, chúng tôi rẽ trái vào lối mòn. Mấy o dân công đội mũ tai bèo gùi đạn đi xăm xăm vượt chúng tôi . Các o rủ đi theo đường các o, các o sẽ gùi đỡ cho. Nói có vẻ không. Vô đây để theo các o chắc.

Nhưng đường theo các o đúng là đường vào mặt trận.

Con đường xuyên vào khu rừng già. Phân đội trinh sát của đơn vị và đội du kích rẽ cùng một trục đường. Khi bộ phận này vượt lên, khi bộ phận kia vượt lên. Mỗi lần như vậy họ lại hò hát cho quên đường dài. Thấy đội trinh sát vượt lên, chị em du kích đang còn ngồi nghỉ, một o béo tròn có giọng hò Quảng Trị rất nghịch ngợm cất lên:

Trai như hạt ngọc hạt vàng

Gái như hạt dẻ bên đàng đợi ai?

Thấy chị em du kích hò, mấy chiến sỹ trinh sát bên bộ binh kích nhau:

– Gáy đi chứ… Gáy đi…

Một chiến sỹ cất cao giọng, mặt tỉnh bơ:

Hạt dẻ ngọt bùi ra sao

Hai mươi chín tuổi anh nào đã biết mô

Các chiến sỹ trinh sát hoan hô rầm lên. Một o dân công đội trưởng không chịu lép lên giọng đối ngay:

Đường dài vai rộng sức trai.

Ngọt bùi lo chi vội để cho ai chóng già

Giọng hò của o đội trưởng trong vắt, bập bềnh, ngọt lịm. Mấy chiến sỹ trinh sát nhà ta tán thưởng rú lên, ngượng quá o ngã giúi vào cây ven đường.

Dòng người theo con đường mòn luồn qua những cánh rừng trúc, rừng mai vi vu rộn rã tiếng trúc tiếng chim, tắm mình trong dòng sông Trinh Hinh trong xanh dào dạt, vắt qua những tràn đồi tranh rộng mênh mông như đồng lúa, leo lên, leo lên hết đỉnh này đến đỉnh khác của rừng Trường Sơn đại ngàn.

Xế chiều, chúng tôi đã lên tới động La Rường và đêm nay nghỉ lại đây. Tranh thủ trời còn sáng mỗi người một tay, một chân chuẩn bị nơi ăn ngủ. Chỉ một lát những chiếc lều nhỏ lợp lá chuối rừng đã mọc lên như nấm trong bãi khách. Bếp hồng đỏ lửa. Thịnh đặt ba lô xuống là được phân công đi kiếm cá ngay.

22/12/71

Ra tới sông Rào Thanh chúng tôi gặp lại các o, trông o nào cũng nhanh nhẹn, khỏe khoắn, tươi tỉnh trong khi các chiến sỹ pháo binh cơ giới, ngày đầu chưa quen, khối anh vượt dốc, tim cứ muốn nhảy lên đầu.

Các o đã chuyển đạn tới trạm và trên đường quay ra chuyển thương binh. Đường rất dốc, các o đã xắn quần lên quá gối, tay gậy Trường Sơn đi từng bước chắc nịch.

Gặp lại o Minh trên bờ sông, o gửi vội cho tôi một lá thư rồi rảo bước theo chị em. Chưa biết thư gì nhưng tôi đã đỏ bừng mặt khi thấy mấy chiến sĩ tinh nghịch đang chiếu tướng mình. Tình cảm gì đây nào. Đã có gì để nói, nhưng hình ảnh của các o thực sự đã là những hình ảnh đẹp đẽ nhất để lại trong lòng tôi trên chặng đường đầu tiên bước vào cửa ngõ chiến dịch.

Vượt sang bên kia sông Rào Thanh, chúng tôi phải leo ngay một dốc khá căng mất trên hai tiếng. Chân dốc bên kia núi là nơi chúng tôi nghỉ đêm nay, kể ra hơi sớm nhưng đến Cam Lộ thì phải năm tiếng nữa, mà dọc đường không có nước nấu ăn.

Các đồng chí trinh sát của trung đoàn pháo sư bộ binh cũng đã theo kịp và nhập đoàn với chúng tôi. Lực lượng đông càng thêm tin tưởng. Thấy nhiều trinh sát viên đeo phương hướng bàn các chiến sỹ bộ binh phấn khởi hẳn lên.  Kỳ này pháo xe kéo tham gia tổng công kích cho chúng biết mặt.

Đoàn chúng tôi đi thành một dòng người, tầng tầng, quanh quanh, cheo leo, chênh vênh. Tiếng hát từng người, từng nhóm cất lên  “Ta ra đi mà chân không giày, mà đầu đội trời ta cứ đi…” Có lẽ nhớ tới người yêu đang ở mặt trận phía đông Dũng hát mãi câu : “Đường ra trận mùa này đẹp lắm,  Trường Sơn đông nhớ Trường Sơn tây…”

Đêm nay các o bao giờ mới về tới trạm, ngày mai các o chuyển được thêm bao nhiêu đạn pháo. Thân gái chiến trường sao mà thương thương thế.

Sẩm tối, trời lại mưa, nền lán của tôi hơi bị dốc, đêm nằm dồn cả về phía Thịnh. Một cọng lá chuối nằm dọc dưới lưng, khó chịu quá, không tài nào ngủ được.

Hình ảnh thằng T cán bộ trung đội của đại đội 6 lại hiện lên với đôi mắt van xin tôi tha thứ. Tha thứ làm sao được khi mà trước giờ cả đơn vị hành quân lên đường vào trận nó lại đào ngũ. Mấy hôm trước gặp nó, nó nhìn tôi với ánh mắt lạ, có phải lúc đó nó đã có ý định trốn chạy, nếu vậy thì tôi thật cả tin cán bộ cấp dưới của mình quá. Làm chỉ huy khó thật, đâu có thể dễ dàng nắm được những gì đang diễn ra trong đầu cấp dưới của mình.

Mấy chặng đường hành quân chưa vào tới khu đất chết, anh em trong tiểu đoàn, cùng chiến sỹ bộ binh, cùng dân công vừa hành quân vừa hò hát rôm rả, tôi cũng khuây khỏa một phần. Nhưng cứ đến khuya, khi tiếng pháo cầm canh của địch vọng tới nỗi ám ảnh thầm kín của tôi về sự hèn nhát của một cán bộ dưới quyền lại đè nặng tâm tư. Tôi muốn giấu kín chuyện này, nếu để lộ ra thì liệu điều gì sẽ xảy ra trong  tâm tư tình cảm và tinh thần của chiến sỹ. Tất nhiên mất T… thì đã có Tý một sỹ quan mới tốt nghiệp ở trường sỹ quan pháo binh về thay thế.

Lại trùm chăn kín đầu soi đèn pin đọc thư của o Minh. Vẫn vẻn vẹn mấy chữ : “…Khi nào ra Bắc đừng quên đến thăm em… và nhớ mang theo đôi tất… Em gái Quảng Trạch, Quảng Bình”. Chỉ vẻn vẹn có mấy chữ mà ngời lên vẻ đẹp của cô gái dân công hỏa tuyến hồn nhiên, bình dị và dũng cảm, tôi lại thấy buồn cho T…

Ngày 23 tháng 12 .

Đường vào chiến dịch vẫn trườn lên các triền núi cao ngất ở các độ cao bảy tám trăm mét. Chúng tôi đã qua con sông Cam Lộ đau thương, đã gặp những cánh rừng đẹp như vườn Cúc Phương, gặp những cây lâu niên đẹp có kém gì những cây cổ thụ của tuổi thơ tôi.

Thỉnh thoảng lại có những khúc gỗ nhẵn lì nằm ven con đường mòn treo trên sườn núi mà các chiến sĩ gọi là ghế tựa Trường Sơn. Thả ba lô ngồi trên ghế, phì phèo điếu thuốc Sông Lam, Trà Khúc, dốc ngược bi đông tớp một hơi trà “Thanh Tâm” ngắm cảnh thiên nhiên chìm trong mây trắng, đón gió rừng ùa vào lồng ngực chúng tôi quên hết mệt nhọc, quên cả chân tay lấm lem mặt mày nhem nhuốc.

Sau ngày thứ ba, vai và chân đã quen, tôi thấy sảng khoái, nhiều lúc đi rất hung vượt cả anh em trẻ. Liền với vùng xanh, từ đây chúng tôi đã gặp những ngọn núi, cây chết khô vì chất độc hóa học. Những cây rất to cũng bị khô héo. Nhiều đoạn bị pháo kích, cây trụi lá, thân đổ ngổn ngang lấp cả đường, chiến sĩ phải cúi lom khom chui qua. Hành quân qua những đoạn đường như thế mọi người phải luôn cảnh giác vì bất kể lúc nào trực thăng của địch cũng có thể từ bên kia núi ào tới.

Chúng tôi men theo dẫy động Cô Ha, lên đỉnh động Lọng rồi xuống sông Trinh Hinh đẹp lạ lùng. Nước sông trong vắt, lòng sông đá trắng làm cho dòng nước sôi lên, cuồn cuộn chảy như dòng người nối nhau đổ vào mặt trận.

Sư đoàn trưởng Hoàng Đan cùng các cán bộ tùy tùng của anh nghỉ ở một khe suối đá. Thấy pháo dự bị chúng tôi vượt lên sát cánh với đủ mặt các binh chủng, sư đoàn trưởng phấn khởi lộ rõ trên nét mặt. Anh đã từng biết khả năng chiến đấu của chính những đơn vị hợp đồng và phối thuộc này trong các chiến dịch trước đây và ngay trong đợt diễn tập binh chủng hợp thành cách đây không bao lâu.

Con đường lượn quanh hai bên bờ suối đổ ra sông Trinh Hinh rồi men theo bờ sông, khi thì lủi dưới tán của rừng cây rậm rạp, khi thì trườn xuống bãi cát mịn màng, khô ráo. Chúng tôi đã đến bãi khách ven sông. Bãi khách còn in lại dấu vết của bao nhiêu chiến sĩ ta trong mùa chiến dịch.

Được nghỉ ngay tại bãi khách ven sông này thì thú vị biết mấy, nhưng chao ôi, lại lên dốc rồi, bởi bãi khách lâu nay đã trở thành tọa độ lửa của pháo địch. Trạm nghỉ hôm nay của chúng tôi ở trên một sườn dốc, dốc đến bảy tám mươi độ, vào hầm rồi không còn ai muốn bước chân ra khỏi hầm.

27/12/71

Lần trinh sát thực địa đầu tiên của chúng tôi được tiến hành trên động Khe Sóc giữa ngày tết Noel. Từ trên đỉnh Khe Sóc còn ngổn ngang dấu vết của những ngày đánh Mỹ này, chúng tôi đã được thấy tận mắt toàn bộ hình thái chiến trường Bắc Quảng Trị.

Phương án đánh địch hành quân ngăn chặn, hành quân giải tỏa đã được hình thành trên thực tế. Khả năng, quy mô, đặc điểm, thời gian phương thức địch có thể tiến hành và nhiệm vụ của các đơn vị trong binh chủng hợp thành đã được sơ bộ đề ra. Khu quyết chiến điểm 1, 2, vị trí các đoạn hỏa lực được thống nhất trên thực địa. Tiểu đoàn 3 được giao trọng trách sẵn sàng chi viện hỏa lực trong giai đoạn này. Quyết tâm của mọi người là bất kể trường hợp nào trong phương án xảy ra, chỉ được đánh thắng, từ đó đẩy đà cho chiến dịch tiến công phát triển. Tuyệt đối không để ảnh hưởng tới mục tiêu chiến dịch mà bộ Tổng đã giao cho mặt trận.

Trên đỉnh cao này, những mục tiêu trên dải phòng ngự kiên cố của địch nằm trong phương án tiến công cũng đã được lưu trong tầm nhìn của chúng tôi. Phải chớp lấy thời cơ, trinh sát ngay từ xa. Kia, bên phải đoạn đường chạy dọc là căn cứ Tân Lâm, vừa là sở chỉ huy của trung đoàn 56, vừa là căn cứ hỏa lực hỗn hợp. Về phía xa lô nhô hai đám nhà tôn lấp loáng là căn cứ Mai Lộc, có sở chỉ huy lữ đoàn lính thủy đánh bộ 147, căn cứ pháo hỗn hợp và khu quận lỵ.

Trên các mỏm cao từ trái sang phải là Ba Hồ, Ba Tum, Động Toàn, Động Ngô. Một ngày không lâu nữa cái góc thành trì của chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh mà địch tự hào là bất khả xâm phạm này sẽ sụp đổ, những mắt xích của hàng rào điện tử, hàng rào hỏa lực sẽ đứt tung.

Rời Khe Sóc sang La Rường, lên tới đỉnh cả hàng quân dừng lại ngắm cảnh như những nhà thơ. Đẹp sao dòng nước bạc óng ả, mượt mà từ trên thác cao ngất ào ào trút xuống. Nước đổ vào những bàn tay đá rồi tung lên thành những bông hoa trắng. Nước trút xuống lòng khe đá cuồn cuộn như sóng biển và lan ra thành một lớp sương long lanh trên nhánh lá ngụy trang của chiến sỹ. In vào nền thác bạc là dòng người áo xanh lẫn áo nâu, vai đeo ba lô, đeo súng nặng chĩu, vai tải đạn, quần xắn cao, tất trùm quá gối, dép chằng thêm dây, đạp đá tai mèo, bám dây bám vách nối nhau lên cao lên cao.

Cùng hành quân vào chiến dịch với chúng tôi là những tin tức chiến thắng náo nức lòng người: Cánh đồng Chum diệt mười sáu tiểu đoàn. Pháo xe kéo làm ăn khấm khá. Máy bay địch lại đánh phá Hàm Rồng, Nghệ An,  ta bắn rơi năm chiếc.

Đêm nay nằm ở lèn đá. Gió rét hung.

Ngày 28/12/71

Động La Rường là ranh giới của vùng xanh. Bước vào vùng vàng này mọi người mới cảm thấy mình thực sự đang bước vào trận đánh. Gặp đầu tiên là cánh rừng lim sến bị chất độc hoá học và bom napan chết khô và cháy trụi, còn trơ lại bộ xương khẳng khiu in trên nền trời xám ngắt.

Một quả mìn đang xoè cánh treo trên một cành cây khô. Vừa lùi lại đi vòng để tránh, lại gặp ngay một bộ xương người nửa đen thui nửa còn trắng, tôi sững lại rồi khép nép đi vòng qua. Mọi người rảo bước, lặng lẽ, khăn mặt buộc trùm qua mũi, đi gần như chạy mà vắt vẫn bám kịp. Qua khỏi đoạn vòng tôi cúi xuống luống cuống lấy tay rứt mấy con vắt đang ngo ngoe cái đầu nhọn hoắt tìm chỗ rúc vào tất.

Hết khu rừng chết là tràn tranh kéo dài. Những lưới lửa lem lém cháy từ một quả đạn rốc két lan ra chẹn ngang đường. Chiếc L19 xoi mói, ẩn hiện sau màn khói. Ra khỏi tràn tranh, trục đường bị những hố bom chi chít cắt đứt. Tất cả dừng lại. Người nào người nấy mồ hôi ướt đẫm mặt mũi lấm lem.

– Truyền xuống… Giãn đội hình.

Tôi ra lệnh rồi quay lên trao đổi với o du kích. Tôi nhận thấy cả đội hình đã lọt vào vùng trắng. Đúng vậy, các o du kích đang dẫn phân đội trinh sát vượt qua vành đai điện tử Mác-na-ma-ra. Qua đây là tới đường số 9.

Những vết nhọ trên khuôn mặt trẻ của các chàng trai, cô gái càng làm cho họ ngời lên vẻ đẹp. O du kích béo tròn đang hứng lên hát mấy câu trong bài ca đường 9 thì một tiếng nổ làm mọi người ngồi thụp xuống. O béo ngã lăn ra.

– Các eng…  Cứu em với.

O béo giơ chân lên, nhưng chị em chẳng thấy chỗ nào bị thương cả. Mọi người cười ồ lên, thì ra là mìn lá, dép gần đứt đôi mà chân chỉ bị xước nhẹ.

– Hoan hô o lùn, o béo… Dép mẫu dày 40ly, vừa cao người lại vừa chống được mìn lá…

29/12/71

Từ La Rường chúng tôi chia thành nhiều đoàn cùng một lúc đi nghiên cứu phương án tác chiến. Pháo dự bị chia làm ba bộ phận. Bộ phận tiểu đoàn 3 đi với trung đoàn trưởng, tiểu đoàn 2 đi với trung đoàn phó Thông và tiểu đoàn 1 cao xạ đi với tham mưu trưởng trung đoàn. Tiểu đoàn 2 của tôi cũng chia ba bộ phận. Một tổ do Ân đại đội trưởng đại đội 4 phụ trách theo trung đoàn trưởng đi trinh sát ở cánh Bắc: từ điểm cao 710 tới Động Toàn, Ba Hồ, Tân Lâm. Một tổ do tiểu đoàn phó Dũng đi vượt lên tìm chỉ huy sở tiểu đoàn và vị trí các trận địa pháo. Còn đại bộ phận theo tôi luồn sâu vào sau địch để trinh sát khu vực mục tiêu, chọn đài quan sát, xây dựng phương án tác chiến và hiệp đồng với các binh chủng.

Men theo ngọn La Rường, chúng tôi hạ thấp độ cao xuống sông Giàng Thanh rồi vượt qua đường cơ động xe cơ giới của địch đến Khe Nghi.

Đường bay của chúng tôi xuyên qua khu rừng mai, rừng trúc bằng phẳng mênh mông, vi vu ngọn trúc, rộn rã tiếng chim, qua những đồi lau bát ngát mỡ màng, óng ả như đồng lúa.

Bỗng nhiên đầu hàng quân đứng sững lại

– Gì thế?

Một đồng chí hỏi vọng lên. Phía trên vẫn im lặng

– Đi thôi, đi thôi!

– Chưa đi được

Mấy cậu đi đầu dí dỏm, khúc khích. Một cậu truyền khẽ về phía sau

– Cua đá.

– Cua đá, cua đá là cái gì – Một cậu ngây thơ hỏi lại.

– Là… là cá đùa dưới nước ấy mà.

Thì ra mấy o du kích đang tắm tiên.

Từ Khe Nghi đi bốn tiếng nữa chúng tôi đến trạm 7, một cơ sở nhỏ của huyện đội Gio Cam. Tới đâu chúng tôi cũng gặp những chiến sỹ đánh giặc không kể mùa, kể năm, kể tháng. Họ là những chiến sỹ trinh sát cừ khôi cung cấp tình hình địch chính xác, cung cấp tọa độ địch cho pháo binh, cho chủ lực. Những o gái nhỏ xinh tươi ấy. Thì ra chúng tôi đâu phải là những người đi đầu trong chiến dịch này.

30/12/71

9 giờ chúng tôi tới con suối Bông Kho. Từ đây tới đường số 9 không hết năm phút đường. Dừng lại ngụy trang, chúng tôi bắt đầu giãn đội hình đi từng bộ phận.

– Đương 9 đây rồi

Thịnh và mấy chiến sỹ đi đầu xúc động reo lên. Năm ngoái tổ trinh sát của Thịnh cũng vượt con đường mòn này luồn vào phía nam Tân Lâm. Hồi đó địch đang hành quân sang Nam Lào. Đường số 9 rung lên dưới xích sắt xe tăng địch. Bàu trời ngày dêm như bị xé rách bởi từng bày quạ sắt Mỹ gầm rít.

Đường 9 lúc này im lặng và kín đáo làm sao. Cả dòng sông Đakrông cũng róc rách thầm thì cảnh giác luồn theo những khe lạch suôi về Quảng Trị. Những tấm tôn lát cống nằm còng queo đây đó vẫn phơi mình dưới nắng. Cửa đá của đường 9 vẫn khép chặt. Cỏ gai rậm rạp bò dần bò dần lấp kín vết xích cuồng loạn của Mỹ Ngụy. Cỏ tranh phủ màu xanh lên những dãy đồi mới ngày nào còn xám xịt hố bom, còn đen thui những gốc cây bị cháy.

Đường số 9 xanh lại sau những ngày Mỹ Ngụy bị thất bại ở Nam Lào rút về chui vào cái vỏ thép công sự phòng ngự vững chắc chờ thời. Vệt đường mòn trên đường số 9 dành cho ta đi hôm nay, ngày mai sẽ giang rộng đôi cánh đón xe pháo của ta vào trận địa. Bão lửa của ta sẽ nổi lên thiêu cháy lũ cọp biển đứng đó.

Đội hình hành quân của chúng tôi vừa ra khỏi đường số 9  thì một tốp trực thăng tuần đường của địch ập tới. Mới nghe tiếng động cơ, chưa kịp lánh sang ven đường, máy bay đã ào tới đỉnh đầu, nhiều đồng chí chỉ còn cách đứng im như tượng. Máy bay vòng lại, xà xuống, một vòng rồi hai vòng, ba vòng. Đã tưởng lộ nhưng quả thật chúng là những thằng mù. Lũ mù đã bay về hướng Động Toàn.

Chúng tôi đi tiếp một quãng rồi trụt xuống một cái dốc, luồn theo vì cầu đổ vắt qua sông Rào Quán rồi lại qua một đoạn đá ngầm sang triền 481. Lòng sông có những hẻm đá sâu, nước chảy xiết, lội trơn không gượng được. Lượng, Bảo, Thịnh đi dép, đi giầy đều bị ngã, nước cuốn đi một đoạn. Lội qua đá trơn, chỉ đi tất không là an toàn nhất. Qua triền 481 chúng tôi lại phải lội dọc theo một khe đá dài hàng tiếng đồng hồ chưa hết. Đá rêu lổn nhổn mấp mô, trơn truội, phải lê, phải toài.

15 giờ chúng tôi mới tới hang đá. Đêm nay tôi, Thịnh, Cần ngủ trong hang. Lượng, Bảo, Hiền ngủ giữa hai gốc cây to. Nằm chật, lộn đầu duôi nhau, khó ngủ, mỏi nhừ.. Chưa khi nào mệt như ngày hôm nay. Đài cát xét từ hang trên vọng xuống báo tin ta bắn rơi tám máy bay. Từ 26  đến 30 bắn rơi 19 chiếc.

Những ngày ác liệt đã bắt đầu. Một mùa khô quyết chiến quyết thắng đã tới.

31/12/71

Đồng chí trưởng ban quân báo sư đoàn từ trong căn cứ huyện đội Gio Cam ra báo cáo. Tình hình địch sơ bộ như sau: Lữ 147 đóng ở Động Toàn một tiểu đoàn, ở Ba Hồ một tiểu đoàn, chỉ huy sở ở Mai Lộc. Trung đoàn 56 đóng ở căn cứ Tân Lâm. Ở Mai Lộc, Tân Lâm đều có trận địa pháo hỗn hợp 105+155+175. Động Toàn có pháo 105mm tăng tốc. Địch thường bắn chặn cố định, chặn di động vào những cửa rừng, ngã ba, dọc theo trục đường 9, dọc theo trục đường mòn và dọc khe suối. xung quanh các cứ điểm, những đỉnh cao quan trọng thường có quân đèn cù. Hai tổ trinh sát của bộ binh đã gặp địch phục kích.

Dự kiến của bộ binh chia ra nhiều đoàn trinh sát. Xe tăng, công binh, pháo của sư bộ binh đi với đoàn trinh sát của các trung đoàn bộ binh. Pháo dự bị chúng tôi đi theo đoàn trinh sát của sư đoàn, trực tiếp do sư đoàn phó dẫn đầu.

Nhiệm vụ và đội hình của tiểu đoàn pháo tầm xa đã được phác trên bản đồ. Trước mắt là vấn đề gạo. Ngày mai mùng một tết dương lịch tất cả đi lấy gạo. Chỉ còn hai hộp giò. Dành cho tết một hộp nấu với hoa chuối, thế mà hay. Hoặc tùy, muốn dùng loại rau gì cũng có: búng bính, đùng đình, đay rừng, sam đá hay môn thục, tai voi, mọc nhĩ, măng tươi.

Đêm nằm thao thức mong sao cho chóng đến ngày vào sau địch. Hôm nay địch pháo kích khá nhiều đề phòng ta xâm nhập nhân dịp ngừng bắn ngày tết. Những ngày căng thẳng và lặng lẽ.

5/1/72

Sau bốn ngày ở lại chuẩn bị lương thực, đoàn trinh sát chúng tôi tiếp tục lên đường. Tạm biệt hang đá chúng tôi vượt sông Đakrông. Sông Đakrông trong xanh chảy xiết lượn quanh quanh dưới những rặng núi triền miên, bóng ngả rung rinh trên mặt sông

Vượt sông, từng nhóm phân tán. Chúng tôi lẩn vào những bụi lau nhanh chóng cởi toàn bộ quân trang. Lương thực, đút cả vào phao bơi rồi vác ra thả xuống nước. Bảo Lùn dại đội trưởng bơi kém nhất được anh em mang đỡ cho tất cả trang bị, thế mà vẫn bị trôi. Thịnh phải lao ra kéo mãi Bảo mới tới được bờ.

Nước xiết quá, chân chạm đất rồi mà phải cố gượng mới khỏi bị nước cuốn đi. Phao bơi càng to giữ càng khó. Tôi bị đá ngầm sắc như dao liệng vào bàn chân tê buốt. Bi đông đường sữa của tôi đột nhiên nặng chĩu, mở ra đầy nước, phao thủng. Mấy đứa chúng tôi uống cật lực mới hết. Nước sông Đakrông ngọt lịm.

Bờ sông bên kia là một bản nhỏ. Ba gốc dừa giữa rừng đại ngàn, đẹp quá. Có cả cau và chuối, nhưng không một mái nhà, một bóng người. Dân thượng ở đây đã bị địch càn gom vào khu tập trung.

Chà vắt!… Vắt!… Mấy anh sợ vắt nhảy cẫng lên. Tốc độ hành quân tăng hẳn. Đi như chạy mà vắt vẫn bám đen cả chân. May quá tôi có tất phòng vắt của o Minh nên đi khá đàng hoàng. Qua bản Vắt này chừng một tiếng chúng tôi gặp đường gùi của huyện đội rồi tạt lên động Ta Ri.

– A, mốc đo đạc, tiểu doàn trưởng! – Cần reo lên

Chắc hẳn là bộ phận đo đạc của Triệu Khuê, của Thìn đại đội 14 đã phát triển từ mạng đo đạc ở biên giới Lào về. Giữa núi rừng bát ngát, cây cột mốc vươn lên giữa đỉnh cao như ngọn đèn hải đăng chỉ cho chúng tôi đường vào chiến dịch.

Nhìn cây mốc giản dị, mọc thẳng và cao vút lên hiên ngang chúng tôi càng thêm tự hào và tin tưởng. Có mốc là có tọa độ. Có tọa độ là có phần tử bắn. Pháo bắn trúng hay không trước tiên là người chiến sỹ đo đạc, người chiến sỹ tiên phong của binh chủng pháo và những cái mốc chính xác cao vút trời do chính bàn tay dũng cảm của các anh cắm lên trên những đỉnh cao này.

Chúng tôi dừng lại đêm nay ở khe suối Động Ché sau một vách núi cao có độ an toàn lớn, đạn pháo tầm xa của địch khó mà giót vào được. Lán của chúng tôi dựng ngay bên bờ suối đá. Bỏ ba lô xuống, Thịnh đi kiếm cá ngay. Một tiếng sau đã có một hăng gô cá tươi kèm theo mấy cành lá chua đem về. Tôi câu đêm ở ngay khe đá cạnh lán, lại được một hăng gô nữa, toàn cá nheo, thú vị thật. Đã giật là nặng tay. Đêm nằm, suối cứ róc rách, róc rách. Những con cá nheo vẫn như quẫy trong đầu.

6/1/72

Bắt đầu luồn vào sau địch. Đoàn pháo dự bị chúng tôi chỉ được cử bốn người. Tôi, trung đoàn phó Thông, Bảo đại đội trưởng đại đội chủ công của pháo và Hiền trinh sát viên.

Ngày nào cũng vậy, lại suối lại đèo. Vượt dốc 452 người phải đu như vượn. Một hố bom ngay trên đỉnh dốc, những hòn đá tảng lăn xuống lưng chừng dốc đang còn nằm đó. Đi không khéo chạm phải đá sẽ lăn vào đầu người đi sau. Từ đỉnh 452 chúng tôi nhìn rõ địa hình suốt dọc con đường số 9 từ Bông Kho tới Ba Hồ, suốt mặt sông Ba Lòng từ ngã ba sông Đakrông  tới chân núi Động Ngô.

Qua ngọn 452 dốc thoải dần, thoải dần. Con đường ống chui qua tràn đồi tranh thấp lè tè, người đeo ba lô đi khom quá là vất vả. Gai giật lấy mũ, níu lấy ba lô, cào mặt mũi. Rễ cây quấn vào chân, trời rét mà người phát ngốt lên.

Liền với đoạn đường ống tai ác này, có ai ngờ lại là một tràn đồi bằng lá phân xanh mềm mại tươi mát, gió từ mặt sông Ba Lòng thoang thoảng. Bên kia rừng chim muông ríu rít. Trên những cây gạo, hoa gạo đỏ thắm cả núi rừng. Tưởng như chúng tôi đang vui hội cấy xuân quê hương ngày nào. Tất cả dừng lại chờ tín hiệu an toàn ở bên kia bờ. Tín hiệu của trinh sát viên gọi nhau cũng líu lo rộn rã.

Qua sông chúng tôi đi dọc theo bãi cát , dấu chân mới in trên nền cát mịn lâu nay vắng bóng người làm cho bản làng Ri hoang dã này như sống lại. Những tràn tranh rậm rạp ngả xuống lót đường cho chúng tôi đi. Qua đường tăng, đạn pháo địch còn khét mùi cỏ cháy. Những trái đạn được lắp ngòi nổ tức thì, khi nổ đã bốc một vạt cỏ dài trên mặt đất mà không có hố.

Đây chính là cửa ngõ của cách mạng vào vùng Cùa, vùng đất đau thương kẹp giữa hai con sông Hiếu và sông Thạch Hãn. Vượt đỉnh 425 chúng tôi tạt vào con đường mòn bí mật theo dấu chỉ hướng đi, được khắc vào thân cây rồi trụt xuống căn cứ huyện ủy.

Chập tối anh chị em pháo binh và du kích đã về tới cứ. Cứ có nhiều hầm vuông, hầm kèo. Bộ đội về đông, hầm nào cũng phải nằm hai tầng. Ánh đèn đom đóm lao xao. Con trai nằm ở sàn dưới, con gái nằm ở võng trên. Nhiều anh vừa đặt mình đã ngủ.

Một loạt pháo chớp loé ở cửa hầm làm mấy o tỉnh giấc, nhưng ngay lập tức sau đó tiếng ngáy đều đều của các o lại vang lên.

Riêng tôi, tôi không tài nào ngủ được. Tôi nghĩ đến trận chiến đấu đầu tiên, trận mở màn chiến dịch tiến công Quảng Trị, chiến dịch có tầm quan trọng đặc biệt. Tôi nghĩ đến trận bắn pháo tập trung hỏa lực toàn cụm đầu tiên của quân đội mà tôi là người chỉ huy trực tiếp ở cương vị tiểu đoàn trưởng. Trong chiến dịch này người chỉ huy trưởng tiểu đoàn phải thường xuyên có mặt trên đài quan sát trực tiếp nhìn thấy địch, trực tiếp chỉ huy bắn và sửa bắn. Tôi nghĩ đến những cụm đạn hỏa lực pháo tầm xa của tiểu đoàn tôi, tiểu đoàn pháo 130mm bất ngờ xuất hiện ngay phía trong hàng rào điện tử Mac-na-ma-ra và giáng đòn hỏa lực tập trung xuống các căn cứ địch ở Quảng Trị.

7/1/72

Trời vẫn mù nhưng chúng tôi không được phép nán lại thêm một ngày nào nữa. Gạo dự trữ đã hết. chúng tôi phải tiến hành trinh sát căn cứ Mai Lộc ngay ngày hôm nay. Lội dọc con suối nước vàng xậm chảy ra sông Rào Vịnh tôi theo đường tụ thủy của dãy 375 lên tới tận đỉnh.

375 là một điểm cao đột xuất gần Mai Lộc nhất. Ngoài thám báo và quân đèn cù thường phục ở đây để phát hiện, đón lõng và ngăn chặn ta bảo vệ cho cứ điểm, chúng còn gài chỉ điểm cùng dân Thượng lên làm than củi ở đây. Tiếng bà con Thượng gọi nhau, tiếng chặt cây chí chát ngay dưới sườn đồi. Bộ binh địch cảnh giới hết sức chặt chẽ các ngả đường mòn.

Chúng tôi lợi dụng những hố thám báo và những lùm cây để tiến hành trinh sát. Trời hửng. Hay quá. Mục tiêu Mai Lộc phơi ra trước mắt. Tôi nhanh chóng đối chiếu bản đồ với thực địa. Những năm làm giáo viên trinh sát địa hình ở trường Sỹ quan Pháo binh trình độ kỹ thuật đã giúp tôi nhanh chóng nhận ra các địa hình địa vật và chấm được ngay các mục tiêu của địch. Từ trên độ cao ngót bốn trăm mét, khoảng cách từ vị trí đứng tới mục tiêu khoảng hai kilômét, chúng tôi cảm giác như đang được đi trên máy bay  nhìn xuống, thấy rõ từng căn nhà, từng khẩu pháo, từng hàng rào ở khu trại biệt kích, thấy rõ người và xe cộ đi lại trong căn cứ. Mai Lộc chia thành hai khu vực riêng biệt. Khu trại biệt kích nham nhở, trơ trụi không một bóng cây. Chỉ huy sở của bọn cọp biển khét tiếng tàn ác đóng ở kế bên. Cách đó khoảng chừng một kilômét là khu Quận Trung, nơi chứa bọn ác ôn chỉ điểm.

Tôi và trung đoàn phó Thông tranh thủ từng phút từng giờ để nắm vững mục tiêu được sư đoàn bộ binh yêu cầu hỏa lực chi viện, dự kiến khả năng đối phó, khu quan trọng, khu quyết chiến điểm, những vị trí trận địa pháo, kể cả các trận địa lưu động.

Tuyệt. Có lên đây mới thấy thật sự tự tin. Nhất định đánh được, đánh tốt. Đặt đài quan sát ở khu này mà sửa bắn có thể là lý tưởng.

Nhìn xuống Cùa mà lòng đau xót. Nhân dân Cùa anh hùng, kiên trung đã mấy lần bị bọn Mỹ Ngụy dầy đi xéo lại. Chắc hẳn ngày Cùa được tự do không còn bao xa.

10/1/72

Sau khi hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ trinh sát mục tiêu chủ yếu của cánh nam, chúng tôi trở về gặp bộ phận còn lại ở chân dãy Động Ché. Mấy ngày qua trời quá mù Tầm nhìn ở vùng cao này chỉ được vài trăm mét. Lượng, Thịnh vẫn chưa tìm được vị trí đài quan sát. Tôi đã vạch một phương án khác lên đỉnh Động Ché để tìm vị trí đặt đài quan sát. Ngược theo khe suối lên khoảng một tiếng rồi tạt sang phải lên đỉnh. Vừa đi được mấy phút đã rất gay go, toàn những tảng đá lớn, những hủm sâu và bây giờ một thác cao đã chẹn ngay trước mặt.

Không được phép lùi bước, tìm mọi cách leo lên. Trời! Tôi níu phải cây gỗ sắp lăn xuống khe. Cảm ơn đôi tay nhạy cảm của tôi đã sớm phát hiện sự lung lay của cây gỗ và bình tĩnh xử trí. Một tay tôi bám rễ cây, một tay tôi cố chống cây gỗ lên, may mà Thịnh lên trước đã kịp thời chạy lại kéo tôi lên. Chậm một tý thì cây gỗ sẽ đè lên đầu tôi, không có cách nào chống đỡ. Tôi sẽ bị lộn cổ xuống khe. Và không chỉ mình tôi mà cả các đồng chí đi sau tôi nữa.Vượt thác rồi, lòng suối thoải dễ đi hẳn. Đúng như dự kiến đã phán đoán trên bản đồ, chúng tôi đã phát hiện được những con đường mòn của bộ binh ta năm trước đây đã vây ép Động Ché.

Tạt lên cánh rừng thưa khá đẹp, vượn hú vang rừng Những chú vượn to như người, lông đỏ óng mượt đu như bay trên các ngọn cây. Trợ lý Thịnh, thợ săn của tiểu đoàn, đã giương AK lên ngắm nhưng anh không bóp cò. Nguyên tắc bí mật.

Càng lên cao càng gặp nhiều vết tích của bộ binh ta. Chúng tôi dóng hướng và theo một con đường mòn đầy vắt lên gặp một vị trí tiền tiêu trên mỏm bắc của Động Ché. Năm ngoái bọn lính thủy đánh bộ Mỹ ở đây đã bị quân của sư đoàn 304 đánh cho tơi tả phải rút chạy tán loạn.

Quần áo, mìn, cuốc xẻng chúng còn bỏ lại bừa bãi. Nhặt những mảnh gỗ hòm đạn chất lên sưởi một lát cho đỡ rét, chúng tôi chờ cho qua ngọ xem trời có hửng không.

Trời hửng rồi. Mục tiêu kia rồi, hay quá. Ở đây có thể thấy được toàn bộ chiến trường, thấy cả Mai Lộc, thấy được cả xe cộ đi lại, nhưng thời tiết hạn chế, cự ly quan sát lại khá xa, sửa bắn khó chính xác, chỉ có thể làm đài dự bị. Nghị quyết của đại hội Đảng phải kiên quyết đẩy đội hình lên. Đánh gần mới đạt được yêu cầu bắn chính xác, mãnh liệt. Nối tầm bắn để bắn được vào sâu trong lòng dịch. Chớ quên

Từ đây chúng tôi đạp phương vị tới đỉnh Ta Ri. Đạp phương vị trên các đỉnh núi là một việc rất khó, không thể đi thẳng theo kim địa bàn. Phải đi theo hướng, kết hợp với trục đường mòn có sẵn

Gần tối bụng đói cồn cào, vẫn chưa tới động Ta Ri và cũng chưa có phương hướng nào sáng sủa. Gặp một vị trí của thám báo. Các hòm đạn 12,7mm đầy nước. Có nước, chúng tôi định ngủ lại đây nhưng nghĩ: hẳn địch đã có tọa độ cứ điểm, chúng có thể bắn tới bất kể lúc nào, nên chúng tôi lại đi tiếp.

Đi một thôi vẫn chưa thấy một khe suối nào. Trời đã xâm xẩm tối, bỗng phía trái có tiếng róc rách nhỏ, phải lắng nghe mới thấy, chúng tôi lao xuống ào ào, may mà không vướng bom mìn.

Khe đây rồi. Mừng quá. Chúng tôi kiếm được ít củi khô đủ đun là trời tối đen. Bờ khe dốc quá, đất lẫn đá khó san. Mọi người phải lót cây chuối, lá chuối nằm chênh vênh. Đêm, địch pháo kích ngay trên đỉnh đồi, có lẽ ở mỏm không tên chúng tôi vừa đi qua. Có hai phát nổ choáng tai, đất đá rào rào, chúng tôi nằm trơ trọi không hầm hố. Chúng bay hãy liệu, rồi đây chính những khẩu pháo 155mm này sẽ quay bắn vào đầu chúng bay cho đáng kiếp.

11/1/72

Còn bữa gạo cuối cùng, nấu thật nát mỗi người mới được hơn một bát, mọi người phải ăn thêm canh hoa chuối, rồi cũng tạm đủ no. Đi một chặng dài khát quá, đang tán chuyện cam bưởi thì chúng tôi gặp lại các o dân công tải đạn. Tôi gặp lại o Minh. Chỉ thế thôi cơn khát của chúng tôi đã dịu hẳn. O Minh giúi tận tay cho tôi một túi quýt rừng, nhỏ thôi nhưng múi căng hằn lên, vỏ vàng rộm. O định nói với tôi điều gì nhưng không nói được, chỉ trao cho tôi ánh mắt đầy yêu thương, rồi o đuổi theo đội hình. Còn tôi, tôi cũng chẳng nói được gì, bởi vì tôi có thể nói được gì đây. Tôi đã có gia đình. Tôi bóc quýt ăn, ăn cả vỏ, ăn ngấu nghiến. Quýt ngọt lịm, mát lịm. Tôi không hiểu đó là vị ngọt thực sự của những trái quýt mà o Minh trao cho tôi hay là vị ngọt của chiến tranh.

14/1/72

Tôi và tiểu đoàn phó Dũng đắn đo mãi bên tấm bản đồ, cuối cùng quyết định chỉ huy sở tiểu đoàn đóng tại hang đá ở Bông Kho. Chỉ huy sở sẽ cách các trận địa pháo của đại đội 5 và đại đội 6 khoảng trên dưới một, hai kilômét. Riêng trận địa của đại đội 4 thì vượt lên trước đội hình.

Sở chỉ huy nằm phía sau ngọn núi cao, khối chắn lớn lại nằm trong hang nên độ an toàn cao. Khoảng cách tới trận địa chỉ khoảng một vài kilômét tiện cho chỉ huy bằng thông tin dây. Trở ngại nhất là khâu liên lạc với hệ thống đài quan sát chỉ huy ở gần phía mục tiêu, có cự ly tới hai ba mươi kilômét. Trong tình hình đó chúng tôi quyết định lập một trạm vô tuyến trung gian trên đỉnh ngọn núi Choi.

Sau khi ổn định đội hình chiến đấu, các vị trí sở chỉ huy và trận địa pháo, tôi đi biên giới Việt-Lào đón bộ phận hành quân cơ giới tại La Tương, khu tập kết của đội hình hành quân cơ giới.

Bộ phận trinh sát khu trận địa, mục tiêu đi theo đường mòn Q và H, gian khổ cũng lắm, nhưng cũng có những cung đường cực kỳ nên thơ và lãng mạn, làm cho chiến sỹ quên bẵng đi là mình đang làm nhiệm vụ chiến đấu và đang đi trong tầm pháo địch.

Bộ phận hành quân cơ giới thì phải đánh vật với địa hình, đường xá, đèo cao vực sâu; thi gan với máy bay địch để vượt qua những túi bom, những tọa độ lửa. Khi hành quân từ Hòa Bình vào Vĩnh Linh, tuy có bom đạn nhưng cũng có những cung đường rất nên thơ đặc biệt với các chàng trai lãng mạn khoác áo lính. Nhưng trên trục đường từ Vĩnh Linh tới biên giới Việt Lào để nay mai vào sâu trong Khe Sanh thì không có lấy một giây phút để người lính có thể thả hồn như thế.

Những cỗ xe pháo dài tới hai ba mươi mét cao tới sáu bảy mét ngụy trang cao lừng lững như một tòa nhà di động, làm sao thoát khỏi tầm nhìn điện tử của máy bay Mỹ.

Đồng chí Hướng chính trị viên cùng đồng chí Cấp tiểu đoàn phó chỉ huy đội hình xe cơ giới hành quân từ đồi An Mã vượt biên giới đi trên đất bạn Lào tới Ngã ba Dân chủ, qua barie 07 tới La Tương, Chaki.

Đường xa cách trở, nhiều đèo cao ngầm sâu cua gấp nguy hiểm, địch lại đánh phá ác liệt nên chủ trương mỗi đêm cố gắng hành quân đi được khoảng trên dưới bốn mươi kilômét. Đêm đầu tiên mới chín giờ rưỡi tối đội hình xe đại đội 6 đã tới kilômét số 6 đường số 10, đại đội trưởng đã cho đội hình vượt lên chặng thứ hai nhưng do một xe bị tuột xích mãi tới 8 giờ sáng mới tới. Rất may là trời mưa nên không bị máy bay phát hiện.

Từ chặng thứ hai liên tiếp có những sự cố xảy ra trên đường. Đại đội 5 hai xe bị tuột xích  Xe đồng chí Rễ bị tuột xích, chữa xong chạy ban ngày.

Đại đội 6 rơi mất lưỡi cày pháo. Lưỡi cày của pháo là hai miếng sắt nặng có hình giống lưỡi cày, nặng cả tạ, phải đệm vào đuôi càng pháo để khi bắn, pháo giảm được độ lùi.

Đại đội 6 mất một xe lao xuống hố bom. Trên xe có ba con lợn và một số lương thực. Hỏng một xe ở điểm cao 500. Thực chất là xe bị máy bay oanh tạc, nhưng chính trị viên Bồi chỉ báo cáo là xe hỏng, vì sợ nói máy bay oanh tạc sẽ ảnh hưởng tới tinh thần của chiến sỹ.

Xe pháo của đại đội 4 do chủ quan không trinh sát kỹ nên bị sa lầy ngay từ ngầm gần khu tập kết, phải dùng hai xe xích xoay xỏa trong sáu tiếng đồng hồ mới kéo lên được.

Tới gần ngã ba Dân Chủ xe đại đội 5 rệ xuống suối, khẩu đội phải nằm lại. Tới kilômét 64 gặp bom đánh giữa đường anh em trong khẩu đội phải tự san lấp để đi.

Xe khẩu đội 5 của Mạnh bị C130 “Xin thùng” nhưng nhờ áo giáp rơm nên chỉ bị hỏng nhẹ.

Đại đội 4 khi lên đèo 300 leo dốc cao lái xe mới, tay lái chưa vững, lại thiếu tự tin, lên dốc cài số 2, xe chết máy trôi tụt xuống vực.

Đại đội 6 kéo khẩu sa xuống hố bom tới đèo 500 hết dầu, xin dầu có lẫn nước không chạy được, sau xe rệ bị bom, 559 dùng xe húc kéo lên.

Suốt đêm lặn lội đánh vật với đường sá, ban ngày thì chui bờ rúc bụi cố đánh lấy một giấc ngủ vài ba tiếng, xâm xẩm mặt trời đã lại chui vào buống máy, anh em lái xe người nào người nấy áo quần nhem nhuốc, râu ria lởm chởm, mắt hõm, mặt bạc ra vì lo. Trợ lý xe Diện quát nạt át tiếng xe. Chỗ nào khó khăn là Diện đội trưởng xe của tiểu đoàn lái chiếc xe xích hộ tống tới ứng cứu ngay. Tài lái mới mà đã tỏ ra vững vàng tay lái…

15/1/72

Tổ chức cho tiểu đoàn từ vị trí tập kết La Tương hành quân nhích lên tới Làng Con. Dự kiến một đêm phải đi 2 đêm, vì trạm barie 24 ưu tiên xe đoàn, gần sáng mới cho xe kéo pháo đi nên không kịp.

Đêm thứ hai đi gần tới nơi, cách vài trăm mét thì bị máy bay đánh trùm cả đội hình, một xe bị chấn động nặng, pháo bị hất quay ngang nhưng không đổ lại kéo lên được, một xe bị thủng két nước vì bom bi và mảnh. Kết quả hỏng 2 xe phải kéo đi trạm sửa, hàn lại. Thành, Dung bị thương.

Đại đội 4 trên đường tới Rô Mơ bị hỏng một khẩu pháo phải để lại Làng Suốt không tham gia chiến đấu được.

Đại đội 6 từ La Tương đi Khe Sanh bị địch đánh phá ác liệt đã mưu trí sáng tạo đi nhanh đến gon. Một pháo thủ bị thương.

Xe đồng chí Bồi đại đội 6 quay lại đón chiếc xe bị bắn cháy ở đèo Arinh đã bị bom trúng gần đầu xe.

Chỗ giấu xe hỏng để sửa bị bom bi. Tùng hy sinh, Mạnh bị thương.

17/1/72

Từ Làng Con đến km53 nhích lên trong hai đêm, mỗi đêm hai khẩu.

4 xe 4 pháo đi thông đồng bến giọt

17g45 xuất phát, 19 giờ đến nơi.

19/1/72

Cùng một số pháo thủ từ km53 về sở chỉ huy, chúng tôi đi đường mòn cách trục đường cơ giới chừng vài trăm mét. Trục đường bị địch thả chất độc hóa học, buổi trưa rồi mà rừng như đang còn có sương mù. Chúng tôi người đeo mặt nạ, người lấy khăn quàng qua mặt mũi đi rất nhanh qua khu nhiễm độc.

Khi đó tổ trinh sát đo đạc gồm chín anh em do Thịnh chỉ huy đi trên trục đường cơ giới. Tới ngầm Khe Sanh bị máy bay địch phát hiện bắn rốc két chỉ cách Cường và Hoan vài mét. Cường bị thương ở mông. Hoan bị thương ở bụng, ruột lòi ra. Anh em phải lấy bát úp để băng nhưng không được. Cáng Hoan về tới trạm phẫu thì Hoan tắt thở. Cường, Hoan, Chức, Học là mấy sinh viên đại học bách khoa, đại học mỏ mới bổ xung cho tiểu đoàn trước khi vào chiến dịch.

Tết.  12/2/72

Nhiệm vụ hành quân đưa pháo vào vị trí tập kết đã cơ bản hoàn thành. Vị trí sở chỉ huy, trận địa đã được xác định. Các vị trí đài quan sát và những mục tiêu quan trọng đã được bộ phận Thịnh, Tiến đo đạc giao hội và tính toán với phương pháp giản dị tinh mật đảm bảo cho nhiệm vụ xạ kích.

Lúc này tại sở chỉ huy ở hang đá, cán bộ chỉ huy và kế toán xúm lại tính tọa dộ, xác định các mục tiêu các đoạn bắn trên bản đồ. Người tìm phần tử bắn bằng bàn đạc chỉ huy, người tính bắng thước bắn, bằng logarit.

Cường bị thương nằm trạm phẫu hai tuần cũng đã về. Cường kể với mọi người về cái chết thương tâm của Hoan.  Có thể do linh tính báo trước mà khi đi chiến dịch Hoan gửi lại bộ quân phục mới cho quản lý và dặn nếu có sự gì thì gửi về gia đình.

Buổi chiều Học, sinh viên khoa thăm dò đại học mỏ địa chất, chàng trai lãng mạn, vượt từ hang dưới lên hang trên chỉ để đọc cho Cường sinh viên bách khoa một câu thơ mới viết:

Anh ở đây rừng thẳm mênh mông

Xuân lạnh lẽo nghe suối thầm nức nở

Anh thả lòng cho hồn bay theo gió

Không biết xuân này ai đi chợ cùng em.

Trong khi đó tại các trận địa một số pháo thủ hành quân bộ lên trước cùng công binh, dân công đào công sự cho pháo. Có công sự nằm sâu gần sát núi, chị em dân công và bộ đội phải dọn và san đá dưới lòng suối cho phẳng để cho xe pháo vào chiếm lĩnh. Đạn pháo cũng đã được đoàn vận tải 559 ém sẵn một số.

Ngày 23/3/72

Lệnh trung đoàn, bằng mọi biện pháp cho đơn vị khẩn trương vào chiếm lĩnh trận địa tại Rômơ, Bông Kho để kịp tham gia đánh trận mở màn. Không có thắng lợi của trận này thì chiến dịch tiến công của ta sẽ gặp trở ngại lớn khó lường trước được. Theo kế hoạch hợp đồng, công binh san đường, bạt dốc, làm ngầm cho xe cơ động và hỗ trợ cho pháo một số công đào công sự. Cao xạ của đơn vị phòng không triển khai phòng không bảo đảm cho xe pháo hành quân chiếm lĩnh.

Những chiếc xe kéo pháo, xe đạn, xe cao xạ và cả xe tăng trong đội hình tiến quân của binh chủng hợp thành nguỵ trang kín đáo giãn cự ly, hành quân dưới ánh sáng của những ngọn đèn dù leo lét. Đây đó những chớp lửa xanh lè băm trên mặt đường. Một đám cháy bùng lên. Đám cháy chạy trên đường chậm dần, nhỏ dần rồi tụt lại và mất hút sau một cua đường để lại một vầng sáng sau ngọn đồi tranh đen nhẻm.

Những xe khác vượt lên. Đằng sau là những đường đạn đỏ lừ đan chéo nhau trên không. Tiếp liền là những chớp lửa bom bi nổ chậm lấp loáng kéo dài hàng chục phút.

Tiểu đoàn phó Cấp đi trên chiếc xe đầu của đoàn xe kéo pháo. Anh đứng trên đệm xe nhô đầu lên cửa tròn ở mui xe trực tiếp quan sát. Chiến sỹ lái xe đã có đệm kê đít mà vẫn phải rướn người lên, mắt găm lấy trục đường, ngực phanh trần, mồ hôi trên trán trên ngực rơi lã chã..

Tiếng máy reo, tiếng xích nghiến ầm ầm ào ào. Con đường bập bùng dưới ánh sáng của bom đạn và pháo sáng.

Chiếc xe lúc chồm lên để cho một trái bom hụt về phía sau, lúc đứng sững lại để tránh một trái bom nổ phía trước. Một loạt đạn 20mm của địch bắn trúng thùng xe làm vỡ tung bao gạo bảo vệ ổ máy. Một hòm đạn cháy, pháo thủ ném xuống vực. Xe vượt qua đạn nổ. Một khẩu pháo bị bom hất đổ nghiêng sang vệ đường. Anh em lại cho xe tời lên tiếp tục hành quân.

Một tốp chiến sỹ với ánh đèn li ti như con đom đóm đỏ tắt, sáng, tắt, sáng hãm đoàn xe lại. Đã tới gần trận địa. Cán bộ đại đội nhanh chóng chỉ huy xe pháo tạt vào ven rừng cà phê. Các khẩu đội trưởng mặc áo lót trắng dẫn xe pháo vào công sự.

Trời đổ mưa. Đất bị bom đào lên trộn lẫn nhựa thân cây chuối, trơn nhầy nhụa. Xe quay trơn. Hai xích phải đấu lại kéo, pháo mới chuyển. Khi trời đã sáng rõ mặt người, mới chỉ một nửa số xe pháo ổn định trong công sự. Cây cối ngả rạp dưới vệt xích đã được dựng lên. Những cành nguỵ trang lá dầy, những khóm lau đã được trồng thêm suốt từ đường rẽ vào công sự.

Binh minh rực rỡ. Không khí khẩn trương nghiêm túc bao trùm trận địa. Trinh sát viên phương hướng bàn lần lượt kiểm tra hướng chuẩn cho từng khẩu pháo. Pháo thủ người thiết bị càng, người lau đạn, người phát quang xạ giới. Chỉ huy đại đội ghi phần tử bắn trên lá chắn.

Đồng chí Hùng, đồng chí Nam cán bộ tác chiến của trung đoàn xuống tận trận địa để kiểm tra hướng bắn và phần tử bắn. Bê pháo thủ đạn của khẩu đội đang phanh trần lau đạn để lộ bộ ngực căng tròn nở nang và cái bụng ngấn mỡ.

Tôi dẫn Trung đoàn trưởng Cao Sơn đến thăm trận địa. Anh nhanh nhẹn đến bắt tay từng người. Bê vội chùi hai tay vào giẻ, cẩn thận chùi lại vào hai ống quần chiến thuật để bắt tay trung đoàn trưởng. Anh khoe với trung đoàn trưởng gần hai năm pháo thủ nhưng chưa bao giờ anh được thấy trong công sự pháo đã ém sẵn nhiều đạn như lần này.

– Nhiều là bao nhiêu – Trung doàn trưởng Cao Sơn hỏi.

Bê nhanh nhẩu báo cáo:

– Khẩu đội sẵn sàng hai trăm viên.

– Ngày hội thao đồng chí Bê nạp một trăm viên hết bao nhiêu thời gian?

– Báo cáo… Không quá ba mươi phút.

– Thế thì hai trăm viên của đồng chí chỉ đủ bắn trong một giờ… Khi cần tiêu diệt lớn và bắn chính xác thì một ngàn viên không tiếc… Khi không cần và bắn vung vãi thì một viên cũng không được phép.

-Rõ!

27/3/72

Dân công, thanh niên xung phong gấp rút cùng bộ đội chuyển đạn vào các công sự, đảm bảo trận địa có đủ cơ số đạn nổ súng kịp thời. Trong số dân công có cả chị em phụ nữ. Lệnh của mặt trận phải rút tất cả chị em phụ nữ ra tuyến sau trước khi nổ súng hai ngày.

Thực lòng sự có mặt của chị em trong chiến đấu là nguồn cổ vũ to lớn với chiến sỹ, nhưng với chỉ huy thì là nỗi lo, cứ như là bom nổ chậm gài sẵn ở trận địa. Đặc biệt với Bồi, chính trị viên đại đội 6. Bởi một tin mật từ cô chỉ huy nữ dân công, báo cáo cho chính trị viên Bồi, trong số chị em nữ có tới bốn cô đã tắt kinh ba bốn tháng. Chính trị viên Bồi với tuổi 25, học quân sự xong ra chiến đấu ngay chưa kịp yêu, chưa biết yêu thế nào, càng ngô nghê về chuyện riêng của phụ nữ. Thấy vậy, anh lo cuống lên, anh chỉ mong sớm đến ngày nổ súng để cho chị em ra Bắc. Chậm chạp chuyện này là không thể được, mà không kín tiếng vỡ lở ra thì đại đội mất điểm thi đua.

Tiểu đoàn không hiểu sao chính trị viên Bồi lại cứ thiết tha giục giã tiểu doàn cho chị em phụ nữ về tuyến sau sớm. Nhưng rồi Bồi cũng phải báo cáo với chính trị viên Hướng và chính trị viên Hướng trao đổi lại với tôi. Chúng tôi được một phen cười vỡ bụng.  Bồi có biết đâu chị em phụ nữ vác những trái đạn pháo nặng bốn năm mươi cân hành quân bộ leo đèo lội suối thì chuyện tắt kinh là chuyện cũng bình thường đâu phải có chuyện gì quan hệ nam nữ  không trong sáng..

QUẢNG TRỊ DƯỚI TẦM

HỎA LỰC CỦA PHÁO

30/3/1972

Đ

êm29 rạng 30tôi trực tiếp chỉ huy chiếm lĩnh đài quan sát của tiểu đoàn ở khu vực đồi Không Tên. (Đông điểm cao 182) Lợi dụng ánh sáng của đèn dù và chớp lửa của đạn đại bác địch, phân đội trinh sát triển khai chiếm lĩnh, làm công sự, cưa cây mở rộng thị giới quan sát.

Trời đã sáng rõ. Khu căn cứ lính thuỷ đánh bộ của địch ở Mai Lộc đã hiện lên ngay trước mắt. Từ đài quan sát chúng tôi có thể nhìn rõ và đo đạc chính xác các mục tiêu trong cụm cứ điểm của địch. Đường tin của máy đo phương hướng đã dừng lại và đánh dấu ghi nhớ trong ống kính từng mục tiêu: khu chỉ huy sở, khu kho đạn, khu trận địa pháo.

Chúng tôi đang quan sát thì có hai trực thăng bay tới và hạ cánh ở sân vận động. Trợ lý trinh sát Ngô Thịnh chép miệng, ”nếu như lúc này được lệnh nổ súng!”.

Chợt một số dân có bọn chỉ điểm đi cùng lên núi lấy củi. Họ đang tới gần khu vực ta đặt đài quan sát. Nếu họ lên tới đây phát hiện đài quan sát của ta trong lúc chưa nổ súng thì sao. Là người chỉ huy tôi không khỏi lo lắng, bởi giờ G đang tới gần, thời gian đã đến điểm tính từng phút. Thịnh nhanh nhẹn rút súng ngắn đút vào thắt lưng sẵn sàng đối phó, nom chàng trai Hà Nội thật hiên ngang. Chưa biết Thịnh sẽ xử lý thế nào khi dân lên tới khu đài, nhưng nhìn vào nét mặt bình tĩnh và tác phong quyết đoán của Thịnh anh em trên đài yên tâm… Tôi lệnh cho các chiến sỹ trinh sát dàn đội hình lẩn trong công sự sau bụi rậm giữ bí mật tới cùng và sẵn sàng chiến đấu.

Hòa chiến sỹ vô tuyến điện có bộ mặt thư sinh Hà Nội, từ sớm tới giờ tai gắn liền với ống nghe, mặt đần ra chờ tín hiệu chiến đấu từ sở chỉ huy. Bỗng Hòa bật lên tiếng báo cáo. Hòa nhìn tôi vẻ quan trọng và hả hê:

– Báo cáo tiểu đoàn trưởng!… Lệnh của chỉ huy mặt trận báo động khẩn cấp… Tất cả về vị trí chiến đấu… Báo cáo ngay tầm nhìn ở khu vực mục tiêu.

Chúng tôi xúc động nhìn nhau.

Vậy là giờ phút lịch sử của đời tôi, của tiểu đoàn, trung đoàn đã tới.

Tôi đi về phía cửa đài quan sát, lia ống nhòm vào mấy mục tiêu quan trọng rồi lệnh cho chiến sỹ vô tuyến điện báo lên sở chỉ huy trung đoàn “Mục tiêu quan sát tốt!…”

– Sao Hôm-Ba Lòng, Sao Hôm-Ba Lòng… Ba Lòng chú ý Ba Lòng chú ý, dòng sông xanh thắm…

– Sao Hôm nghe tốt… Sao Hôm nhận đủ…

10g45 tiểu đoàn chuẩn bị xong phần tử đầu tiên truyền xuống trận địa.

10g49 trung đoàn lệnh nạp đạn. Có đơn vị vẫn còn nghi ngờ nạp đạn thật hay tập. Chẳng là phương án chiến đấu rất giống như phương án tác chiến trước khi hành quân đi chiến đấu anh em đã diễn tập.

11g bão táp I bắt đầu. Toàn cụm pháo trung đoàn tiến hành bắn vào Z26, căn cứ trung đoàn bộ binh 56 ở điểm cao 241. Một vài khẩu ở trận địa đại đội 5, đại đội 6 bị vướng xạ giới, anh em đã tranh thủ khi khẩu đội bạn nổ súng, cho nổ bộc phá ngả cây để kịp thời tham gia chiến đấu. Địch ở Mai Lộc thấy 241 bị pháo kích đứng lố nhố xem.

11g24 đạn bắt đầu giót xuống Z39, căn cứ của lữ đoàn lính thủy đánh bộ 147 đóng ở Mai Lộc. Bọn cọp biển chạy tán loạn.

Lúc này bộ binh mới tìm thấy đài chỉ huy của tiểu đoàn và mắc dây tới. Thấy đài quan sát của pháo rất gần mục tiêu, quan sát tốt và tạo được yếu tố bất ngờ, bộ binh cũng chuyển đài chỉ huy của bạn kế bên.

Lệnh truyền từ đài chỉ huy, qua sở chỉ huy tiểu đoàn, xuống các trận địa pháo. Tiếng khẩu lệnh, tiếng chuông reo, tiếng ma níp truyền tin vang lên ở các đầu mối thông tin liên lạc, trạm giữa, trạm vô tuyến trung gian. Chiến sỹ tụm lại yên lặng lắng nghe diễn biến của trận đánh.

11g30. Đồng loạt các trận địa pháo tầm xa nhả đạn. Những tiếng nổ cộng hưởng nối nhau, chen nhau dậy đất rền trời. Những bụm khói trắng nở như hoa trên tầm cây. Toàn cụm pháo của trung đoàn bắn tập trung vào cứ điểm 241, Mai Lộc và các trận địa pháo địch.  Đây là lần đầu tiên pháo binh Việt Nam bắn tập trung hỏa lực toàn cụm với số đạn lớn của hơn hai mươi khẩu pháo 130mm và 122mm.

13g và 17g25 trung đoàn điều đại đội 5 sang bắn cứ điểm 241 thay cho đại đội 7 gặp khó khăn.

Xe tăng bộ binh tiếp cận mục tiêu. Các chiến sỹ cao xạ lia nòng pháo dõi theo bốn phương tám hướng. Những đoàn xe chở đạn lao nhanh trên đường. Dân công tới tấp chuyển đạn vào trận địa.

Những nấm khói đen vàng ở trại lính địch bung lên. Những tiếng rít, tiếng nổ đan nhau. Bọn lính ngụy nháo nhào chạy từ hầm nọ sang hầm kia, núp dưới xe tăng, chui sâu xuống hầm ngầm, chạy tháo thân ra ngoài cứ điểm. Cột rada gãy quẹo, pháo binh câm họng. Pháo thủ lùi ra xa những đống đạn. Chúng lò dò bê được vài viên đem ra rê nòng pháo bắn uỳnh oàng được vài phát vu vơ vào những cánh rừng mênh mông rồi lại chạy tụt vào hầm.

Các đợt hoả lực liên tiếp trút xuống Mai Lộc, 241 lúc dồn dập mãnh liệt, lúc thưa thớt kéo dài. Nhiều khẩu pháo gục nòng, Hàng chục xe hơi chết gí. Cái cháy, cái vỡ máy, cái xịt lốp. Những ngọn lửa của thuốc pháo cháy sáng xanh. Những phi dầu mỡ và những chiếc lốp xe trúng đạn ngọn lửa cháy đỏ xịt, khói đen xì.

31/3/72

7g37 và 8g52 đại đội 5 tập kích hỏa lực vào cứ điểm 241.

9g15 đại đội 5 và đại đội 6 cấp tập đợt một vào căn cứ Mai Lộc. Tiếp theo đợt cấp tập là từng khẩu bắn phá hoại. Đạn trúng khu trung tâm thông tin, ra đa bị gục.. Một kho đạn bị cháy. Nhiều tiếng nổ to. Đạn pháo hiệu trong kho nổ. Khói màu: xanh, đỏ, vàng bung lên như pháo hoa bao trùm căn cứ. Cảnh chiến trận thật là hoành tráng.

11g trung đoàn thông báo ở 65G có một tiểu đoàn bộ binh và xe tăng địch, lệnh: “phát hiện được cho bắn ngay”, nhưng đài quan sát tiểu đoàn không thấy. Nhận định của tôi đó là một số lính lẻ tẻ chạy từ 365 về khi thấy Mai Lộc bị uy hiếp.

11g25 khẩu 2 đại đội 6 bắn kiềm chế pháo địch ở đoạn 204, gần hết đạn liều nguyên, trung đoàn điều đại đội 5 kiềm thay. Khẩu đội 3, khẩu đội 4 đại đội 5 bắn cháy trận địa pháo 105mm, 155mm của địch, có hai khẩu bị hỏng, một khẩu gục nòng đài quan sát thấy rõ.

15g36. Dưới trận địa phải dùng hai xe gát chở đạn pháo ban ngày. Trung đoàn cho thêm một xe xích chở đạn. Chỉ trong hai ngày đầu, riêng tiểu đoàn hai đã bắn ngót một ngàn viên đạn.

1/4/72

9g một tiểu đoàn địch phản kích ra nam Mai Lộc tiến về phía chân đài chỉ huy. Đài tiểu đoàn gọi khẩu đội 2 đại đội 6 bắn tan tác một đại đội ở khu bãi mít. Hai đại đội ở phía trước bị tiểu đoàn 6 bộ binh đánh bỏ chạy. Tôi điều ngay khẩu đội 2, khẩu đội 4 đại đội 6 bắn vào bọn địch rút chạy. Đạn trúng đội hình. Anh em bộ binh tấm tắc khen pháo tầm xa 130mm mà giót trúng như cối 120mm. Tiểu đoàn địch ra phản kích vội tháo chạy ra hai hướng.

11g30 đại đội 5 bắn căn cứ lữ 147 Mai Lộc. Đạn trúng mục tiêu rất đẹp. Một phát trúng giữa trận địa pháo 105mm, một phát trúng sở chỉ huy lữ đoàn, một kho cháy.

12g40 tiếp tục bắn từng loạt. Hai loạt trúng mục tiêu.

12g42 một phát trúng. Mục tiêu bốc cháy.

14g30 trúng đội hình hành quân của địch từ Quận Trung sang Mai Lộc. Lúc này thấy cổng bên trái căn cứ có khói vàng, phán đoán sắp có trực thăng hạ cánh, tôi hô bắn nhưng không kịp, máy bay đã thả được một khối hàng xuống thì đạn mới tới, nhưng rất hay là đạn trúng ngay gần khối hàng địch vừa thả. Khối hàng bị vỡ tung tóe có cả bắp cải lăn ra đường.

Ít phút sau lại có khói vàng và một trực thăng quan tài bay CH 47 xuất hiện, tôi hô bắn kịp thời, máy bay vừa xà xuống thì đạn nổ, máy bay không dám hạ cánh vội thả một lô hàng rồi bay đi. Lô đạn rơi từ trên cao bị vỡ tan. Đợt thứ ba nghe tiếng trực thăng nhưng không thấy khói, tôi lệnh cho pháo bắn nhưng trực thăng không dám xuống và chuồn thẳng.

14g35 bắn bốn phát trúng cả bốn vào mục tiêu.

Kết quả bắn phá hoại kết hợp kiềm pháo địch không cho chúng phản pháo vào trận địa của ta, vào đội hình bộ binh ta đạt kết quả tốt. Có đợt 8 phát trúng vào khu mục tiêu cả 8. Có phát trúng nơi hiểm yếu của căn cứ gây được hiệu quả tiêu diệt. Đại đội 5 đánh chặn tiếp tế tốt. Đánh kiềm pháo dai dẳng cả ngày làm địch sống trong tình trạng căng thẳng, không có điều kiện tổ chức phản kích, tinh thần mau sa sút. Ngày thứ ba cả chiến sỹ vô tuyến điện, và trinh sát viên, cũng biết sửa bắn.

Tôi đề nghị trung đoàn khen thưởng cho khẩu đội 2, khẩu đội 4, đại đội 6.

Đêm 1/4/72

Chỉ trong ngày đầu tiên toàn trung đoàn đã bắn hàng ngàn viên đại bác 122mm và 130mm, có trọng lượng tới bảy tám mươi tấn (Mỗi viên kể cả hòm và ống phóng nặng khoảng tám mươi kilôgam). Nghĩa là sau một ngày bắn thì ngay đêm đã phải có ba mươi chuyến xe vận tải tiếp đạn cho các trận địa.

Trời vẫn mưa sập sùi, đường trơn như đổ mỡ, có trận địa phải dùng xe xích vận chuyển đạn vào công sự. Lưu Hữu Đặng chỉ huy đoàn xe vận tải kịp thời tiếp đạn. Lương Minh Nghĩa đem xe xích đi hộ tống xe vận tải đạn vượt qua những đoạn đường trơn.

Nửa đêm xe đạn tới trận địa, không chỉ pháo thủ mà cả thông tin, anh nuôi lái xe và dân công ra bốc đạn.

2/4/72

Trời vẫn mây mù. Gần trưa trời hửng nắng.

Đại đội 6 tiếp tục bắn vào khu bãi mít, tuyến phòng ngự vành ngoài của địch. Một chốt địch bị trúng đạn pháo, hàng chục tên chết nằm ở dọc đường.

Trung đoàn điều hỏa lực đại đội 5 sang cấp tập căn cứ 241 của trung đoàn 56 bộ binh địch, xong lại quay về bắn căn cứ Mai Lộc, lữ 147 lính thủy đánh bộ.

10g30 tôi chỉ huy cho đại đội 8 tiểu đoàn 3 bắn thử vào căn cứ Mai Lộc.

13g đồng chí chiến sỹ máy vô tuyến điện ở đài quan sát Sao Mai, đài tiền tiến của trung đoàn pháo binh Bông Lau do đồng chí Thông trung đoàn phó chỉ huy nhận được tín hiệu của lính thông tin Ngụy nói chỉ huy của trung đoàn 56 xin gặp chỉ huy cao nhất của Bông Lau. Chiến sỹ thông tin không dám báo cáo, sợ rằng mình quan hệ với địch vô nguyên tắc. Nhưng sỹ quan trung đoàn 56 tiếp tục gọi nhiều lần xin gặp, đồng chí Thông điện về sở chỉ huy báo cáo trung đoàn trưởng Cao Sơn. Đồng chí Cao Sơn ngay lập tức trao đổi với chính ủy Trương Linh Huyên và sau khi báo cáo sư trưởng Hoàng Đan, anh cầm máy nói chuyện trực tiếp với Phạm Văn Đính. Khi đó nhà báo quân đội Nguyễn Thắng có mặt ở sở chỉ huy đứng kề bên nghe được giọng nói Thừa Thiên của Phạm Văn Đính “Tôi, Phạm Văn Đính, trung tá, trung đoàn trưởng trung đoàn 56 cùng toàn thể sỹ quan thuộc bộ chỉ huy trung đoàn đã họp tại phòng làm việc của tôi, trên dưới bàn bạc quyết định không đề kháng nữa để ra với Quân giải phóng.”

Trung đoàn trưởng pháo binh Bông Lau Cao Sơn “Hoan nghênh các anh hạ súng đầu hàng tập thể. Pháo sẽ ngừng bắn… Sẽ có người tới dẫn đường cho các anh.”

13 giờ 9 phút ngày 2 tháng 4, từ đài quan sát Sao Mai, đồng chí Trần Thông trung đoàn phó báo về đã thấy cờ trắng trên điểm cao 241 và các binh sỹ trung đoàn 56 cầm cờ trắng đi ra phía Đầu Mầu theo quy định.

Ngay lúc đó trên bàu trời phía cao điểm 241 xuất hiện hai máy bay trực thăng. Anh Hoàng Đan yêu cầu pháo binh bắn, nhưng lúc này binh sỹ địch đang trên đường ra nơi tiếp nhận đầu hàng, nếu bắn thì sẽ rất nguy hiểm cho tính mạng anh em. Sở chỉ huy lệnh cho cao xạ bắn, nhưng cao xạ của cả pháo binh và bộ binh lúc này chưa tiếp cận được căn cứ 241. Chính hai chiếc trực thăng đã lợi dụng tình huống khó xử đó để giải cứu hai cố vấn Mỹ.

Trung đoàn trưởng Cao Sơn lệnh cho trung úy Giáp cán bộ Quân lực của trung đoàn cùng trung úy Đạo chỉ huy đại đội 8, khẩu đội trưởng Tô Văn Thành và các chiến sỹ khẩu đội 4 đi trên chiếc xe ATC 55 do Lương Minh Nghĩa lái, tới tiếp nhận sự phản chiến đầu hàng của trung đoàn 56. Đi cùng trung úy Giáp có nhà báo Quân đội Nguyễn Thắng, có anh Đồng ở bộ phận tuyên huấn Bộ Tư lệnh Pháo binh.

Gần tới nơi xe bị trúng mìn, anh Đồng và một vài chiến sỹ bị thương. Anh Thắng, anh Đạo và mọi người tiếp tục đi bộ tới gặp Phạm Văn Đính.

Trung úy Giáp một mặt cử người cùng nhà báo Nguyễn Thắng đưa trung tá Phạm Văn Đính và Trung tá Vĩnh Phong về tuyến sau, một mặt cùng Nghĩa Đen lái xe của ta, trung sỹ Hẩu lái xe của trung đoàn 56, một khẩu đội trưởng pháo vua chiến trường, một pháo thủ pháo 155mm… đưa pháo vua chiến trường và pháo 155mm ra khỏi căn cứ cất giấu tạm cách Đầu Mầu chừng 3 kilômét.

13g28 trong lúc bên căn cứ 241, Tân Lâm trung đoàn 56 đầu hàng thì đại đội 5, đại đội 6, đại đội 8 cấp tập mãnh liệt vào căn cứ lữ 147 Mai Lộc. Sở chỉ huy cháy lớn

14g56 đại đội 5, đại đội 6, đại đội 8, đại đội 9 lại cấp tập vào Mai Lộc, địch tháo chạy. Một xe tăng và khoảng hai trăm lính chạy tán loạn. Tôi điều đại đội 5, đại đội 6 bắn tiếp nhưng trung đoàn không cho, mặc dầu trong ngày trung đoàn trưởng Cao Sơn đã nhắc, nếu để địch tháo chạy đồng chí Hải phải chịu trách nhiệm. Sau tôi báo cáo rõ xin bắn theo yêu cầu của anh Phê phó tư lệnh sư đoàn 304 bộ binh. Khi anh Phê can thiệp được thì địch đã chạy thoát chỉ bắn đuổi được vài viên vì sợ vào khu dân.

18g đại đội 5, đại đội 6, đại đội 8, đại đội 9 do trung đoàn chỉ huy đã cho lệnh nạp đạn, mặc dù lúc 14g bộ binh đã tiếp cận căn cứ Mai Lộc. Đồng chí Thịnh trợ lý trinh sát phát hiện bộ binh đã tiếp cận, tôi vội báo cáo trung đoàn xin tạm ngừng. Nếu bắn chắc chắn sẽ có một số đạn tản mác rơi vào đội hình bộ binh ta.

19g bộ binh của sư đoàn 304 vào căn cứ Mai Lộc, địch chỉ còn một số tên bị thương ở lại. Bộ binh triển khai sang đánh Quận Trung.

20g40 đại đội 5, đại đội 6, đại đội 7, đại đội 8 bắn nốt viên đạn đã nạp sẵn trong nòng vào Quận Trung. Đạn trúng một lô cốt, giết một quận phó và sập nhà ấp trưởng.

3/4/72

8g sáng đã nhìn thấy rõ cờ Giải phóng ta cắm ở Quận Trung. Cùa đã được giải phóng. Đồng bào sơ tán đã kéo về.

Thế là toàn bộ trung đoàn 56 bộ binh nguỵ, lữ đoàn thủy quân lục chiến 147 cọp biển với căn cứ hoả lực và căn cứ hành quân 241 và Mai Lộc, trong hệ thống cứ điểm phòng ngự vành đai thép mà đich thường ví với chiến lũy Verdun, chiến lũy Maginot (Pháp) đã bị tiêu diệt. Giai đoạn bóc vỏ chiến dịch đã thắng lợi ngoài sức tưởng tượng.

Xe tăng bộ binh từ các ngả kéo vào.

Các o du kích dẫn tù hàng binh về tuyến sau. Đủ các loại: lính pháo, lính xe tăng, bộ binh, lính thuỷ đánh bộ. Đứa đeo phù hiệu hình ó đen quắp lấy quả địa cầu, đứa đeo đầu voi trắng, đứa đeo hình cá sấu có chữ Bến Hải. Đứa nào đứa nấy đầu tóc rậm rạp, da đen cháy. Đứa mang băng trên người. Đứa mặc quần áo vải xanh cứt ngựa, túi bắt gà. Đứa cởi trần ngực xăm đầy hình đàn bà khoả thân. Đứa chỉ mặc độc một quần xà lỏn bục ống. Một số lính cùng trung sỹ Hẩu hàng binh giúp các lái xe của ta kéo các khẩu pháo vua chiến trường 175mm, pháo 155mm, pháo 105mmm chiến lợi phẩm về tuyến sau.

Chỉ từ 30 tháng 3 đến 2 tháng 4, riêng tiểu đoàn 2 đã bắn tới 1830 viên đạn đại bác 130mm. Ngày 2 tháng 4 là ngày tiểu đoàn bắn với số đạn nhiều nhất: 695 trái. Kỷ lục thuộc về hai khẩu đội của đại đội 6. Khẩu đội 2 trong ngày 2 tháng 4 bắn tới 152 viên, khẩu đội 3 trong ngày 2 tháng 4 bắn tới 153 viên. Pháo thủ Tưởng được anh em gọi là pháo thủ một cơ số. Anh đã nạp hẳn một cơ số đạn bắn trong một ngày, với trọng lượng khoảng chín mười tấn.

Từ sở chỉ huy mặt trận, đồng chí Tư lệnh gửi điện khen ngợi các quân binh chủng chỉ trong một thời gian ngắn, đã đập tan tuyến phòng thủ phía tây Quảng Trị, tuyến phòng thủ kiên cố bậc nhất mà địch xây dựng với ý đồ chia cắt vĩnh viễn Bắc Nam. Nhưng đồng chí cũng thông báo cho các chỉ huy biết chỉ trong ba mươi giờ qua, chín tiểu đoàn của biệt động quân đã được Sài Gòn không vận tới tăng cường cho chúng. Phải đánh nhanh đánh mạnh trong lúc chúng mới đặt chân tới còn hoang mang chưa kịp củng cố.

Nhiệm vụ của Bông Lau tiếp tục chi viện cho sư bộ binh 304  tiến công quân địch ở Ái Tử, chiếm cầu Quảng Trị. Chi viện cho sư bộ binh 308 tiến công tiêu diệt dịch ở cụm Đông Hà, Lai Phước, sư bộ binh 324 đánh địch ở La Vang cắt giao thông trên quốc lộ 1 ở đoạn cầu Mỹ Chánh.

4/4/72

Bộ phận đài quan sát tiểu đoàn chuyển xuống Cùa.

Thịnh, Cần, Đỗ Thịnh, Hòa… dọc đường xuống căn cứ Mai Lộc đã quây bắt được một tàn binh. Tên tàn binh chui trong cống chống trả bằng AR15 và lựu đạn.

Ta tung ba lựu đạn và kêu gọi đầu hàng.

Tên hắn là Nguyễn Văn Đồng lính của lữ đoàn lính thủy đánh bộ 258. Hắn mới mười bảy tuổi.

Vào căn cứ Mai Lộc kiểm tra kết quả bắn tôi còn thấy một số lính địch bị thương chúng bỏ lại chạy tháo thân. Một tên khóc đau đớn làm nhói trong tim tôi. Nằm bên hắn là mấy tên đã chết chân thò ra từ trong chiếc xe quân sự. Tôi quay lại đưa cho tên bị thương một cuộn băng. Trông thấy hắn tôi lại nghĩ tới Hoan, tới các chiến sỹ của ta bị máy bay chúng bắn. Tôi không muốn và không có ý định trả thù, nhưng chiến tranh là chiến tranh, có thể nào khác. Ôi chiến tranh! Tại sao lại phải chiến tranh. Tại sao con người không thể cùng nhau thương lượng, cùng nhau chung sống hòa bình.

Tới Cùa, tôi gặp một tốp quân cảnh của ta đeo băng đỏ đi tuần tra dọc phố. Các quán của thị trấn đã trở lại bán hàng. Qua một quán cà phê tôi thấy một lính địch bị thương. Có thể là người nhà hoặc quen biết chủ nhà. Chị chủ nhà vẻ lo lắng nhìn tôi. Chắc chị đó đoán tôi là chỉ huy. Tôi quay lại bảo một chiến sỹ đưa cho chị cuốn băng. Chị nhìn tôi như chưa thể tin đó là điều đang diễn ra ngay trước mắt chị. Tôi gật đầu cảm thông với chị.

(Tham khảo thêm phụ lục từ mục 1 đến mục 6)

%d bloggers like this: